1. Thời giờ làm việc bình thường

Thời giờ làm việc bình thường được quy định trên cơ sở tiêu chuẩn hoá thời giờ làm việc biểu hiện bằng việc quy định số giờ làm việc trong một ngày đêm, một tuần lễ hoặc số ngày làm việc một tháng, một năm. Trong đó, việc tiêu chuẩn hoá ngày làm việc, tuần làm việc là quan trọng nhất, là cơ sở để dễ dàng trả công lao động và xác định tính hợp pháp của các thoả thuận về thời giờ làm việc. Thời giờ làm việc bình thường chính là việc quy định độ dài thời gian làm việc của người lao động trong một ngày đêm (24 giờ) và số giờ hoặc ngày làm việc trong 1 tuần lễ tương ứng với 7 ngày.

Ngay từ những năm 1919, Tổ chức Lao động quốc tế đã quy định: “Một tiêu chuẩn phải đạt là chấp nhận mỗi ngày làm việc 8 giờ hoặc mỗi tuần làm việc 48 giơ” và coi đó là “có tầm quan trọng đặc biệt và cấp bách” (Hoà ước Véc-xây năm 1919). Hầu hết các quốc gia đều quy định thời giờ làm việc phù hợp với đặc điểm kính tế-xã hội và pháp luật quốc tế bằng khung giới hạn tối đa. Do điều kiện kinh tế phát triển, trình độ khoa học kĩ thuật phát triển, năng suất lao động tăng, nhận thức tích cực từ Nhà nước và người lao động, người sử dụng lao động mà tiêu chuẩn hoá thời gian làm việc ngày càng có xu hướng được rút ngắn ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Ở Việt Nam, bằng việc quy định khung tối đa, thời giờ làm việc của người lao động được xác định ‘‘không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần” (khoản 1 Điều 105 Bộ luật lao động năm 2019). Trong trường hợp quy định thời gian làm việc theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong một ngày nhưng không quá 48 giờ trong một tuần. Để đảm bảo hơn nữa quyền nghỉ ngơi của người lao động, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ. Thời giờ làm việc này áp dụng cho các công việc bình thường, không có tính chất nặng nhọc độc hại, nguy hiểm hay đối tượng lao động đặc biệt nào. người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc bình thường theo ngày, tuần và ngày nghỉ trên cơ sở quy định chung và phù hợp với điều kiện của đơn vị. Trong một số trường hợp cần phân bổ lại thời gian làm việc trong ngày, tuần hay trong tháng, người sử dụng lao động cần thoả thuận thống nhất với tập thể người lao động trong các cam kết hoặc thoả ước lao động tập thể. Cũng cần lưu ý, pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia đều xác định một số thời giờ mà người lao động không thực hiện các nghĩa vụ lao động là thời giờ làm việc, có hưởng lương. Theo pháp luật Việt Nam, thời giờ làm việc còn được xác định bao gồm cả những loại thời giờ nghỉ trong giờ làm, nghỉ cần thiết do nhu cầu sinh lí tự nhiên, ngừng việc không do lỗi của người lao động, thời giờ học tập huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, hội họp, tập huấn công đoàn...

Đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc một số đối tượng lao động có đặc điểm riêng như phụ nữ có thai, lao động chưa thành niên, cao tuổi... thì thời giờ làm việc được rút ngắn hơn thời giờ làm việc bình thường mà người lao động vẫn hưởng nguyên lương (Xem thêm Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 và Xem thêm Điều 137, Điều 155, Điều 144, Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019). Quy định này xuất phát từ mục đích bảo vệ người lao động trong những trường hợp đặc biệt, với đối tượng đặc biệt căn cứ vào đặc điểm môi trường lao động, đặc thù về giới tính, sức khoẻ, độ tuổi... của người lao động. Từ việc giảm giờ làm nhung hưởng nguyên lương dẫn đến việc người sử dụng lao động có xu hướng hạn chế, “không thiết tha” với việc sử dụng những lao động này hay nói cách khác tạo những “rào cản” về cơ hội việc làm cho họ. Sự điều chỉnh pháp luật về thời giờ làm việc của nhóm đối tượng này phải được cân nhắc trong sự phù hợp chung về quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động cũng như mục đích huy động lao động của Nhà nước.

Theo quy định pháp luật hiện hành, những đối tượng áp dụng thời giờ làm việc rút ngắn được giảm từ 1 đến 4 giờ làm việc mỗi ngày tuỳ từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn người lao động làm công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm theo danh mục thì thời gian làm việc tối đa không quá 6giờ/ngày, lao động nữ làm công việc nặng nhọc độc hại, mang thai từ tháng thứ 7 trở lên được giảm bớt 1 giờ làm việc/ngày, trong thời gian lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút/ngày (khoản 4 Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019). Đối với lao động dưới 15 tuổi thời giờ làm việc không quá 4 giờ/ngày và 20 giờ/tuần (khoản 1 Điều 146 Bộ luật lao động năm 2019). Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (khoản 2 Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019).

2. Thời giờ làm thêm

Thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc của người lao động ngoài phạm vi thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thoả ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động, do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, về hình thức, dễ nhận thấy việc quy định làm thêm giờ mâu thuẫn với ý nghĩa và nguyên tắc bảo vệ người lao động, song làm thêm giờ cũng được nhìn nhận như một nhu cầu tất yếu, khách quan vì lợi ích của cả hai bên chủ thể trong quan hệ lao động. Do vậy, pháp luật lao động Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước cũng đều quy định thời giờ làm thêm nhưng gắn liền với những điều kiện khắt khe, nhằm tránh sự lạm dụng từ người sử dụng lao động. Những quy định về thời giờ làm thêm tập trung vào điều kiện làm thêm, số giờ được phép huy động làm thêm, lương làm thêm và các trường họp không được phép huy động làm thêm.

Chẳng hạn, về điều kiện huy động làm thêm, pháp luật Việt nam cũng như tất cả các quốc gia đều quy định chặt chẽ với điều kiện tiên quyết là đứợc sự đồng ý của người lao động. Đây là điều kiện quan trọng nhằm loại bỏ bóc lột, lạm dụng lao động đảm bảo qua phương thức thoả thuận, tự do ý chí. Điều 107 Bộ luật lao động năm 2019 quy định điều kiện huy động làm thêm giờ bao gồm:

1) Phải đảm bảo được sự đồng ý của người lao động;

2) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày. Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

3) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp nhất định.

Những trường hợp đặc biệt được phép huy động làm thêm tới 300 giờ/năm được quy định chặt chẽ về ngành nghề, công việc hoặc thuộc các trường hợp cấp bách (Xem thêm: Khoản 3 Điều 107 BLLĐ năm 2019).

Trong một số trường hợp đặc biệt, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm vào bất kì ngày nào mà không giới hạn số giờ làm thêm và người lao động không được từ chối. Đó là khi thực hiện lệnh động viên, huy động đảm bảo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩn cấp hoặc thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và thảm hoạ trừ trường hợp có ảnh hưởng tới tính mạng, sức khoẻ của người lao động theo quy định.

Khi tổ chức làm thêm cho người lao động, người sử dụng lao động phải thoả thuận với người lao động và phải đảm bảo số thời giờ làm thêm quy định trong ngày, tuần, ngày liên tục trong tuần, các quy định về thời giờ nghỉ ngơi, các quy định về cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ đối với một số đối tượng và đảm bảo chế độ trả lương làm thêm giờ cho người lao động. Người sử dụng lao động không được phép huy động làm thêm giờ đối với phụ nữ có thai từ tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động khuyết tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên. Đối với người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động chỉ được phép huy động làm thêm giờ trong một số ngành nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Trên thực tế, mặc dù pháp luật không cho phép hoặc hạn chế huy động làm thêm với một số đối tượng song cũng có trường hợp người lao động vẫn muốn làm thêm và nhận được sự đồng ý từ người sử dụng lao động. Trong trường hựp này, thoả thuận làm thêm vẫn bị coi là bất hợp pháp, người sử dụng lao động được xác định vi phạm pháp luật lao động.

3. Thời giờ làm việc ban đêm

Thời giờ làm việc ban đêm là khoảng thời gian làm việc được ấn định tuỳ theo vùng khí hậu, yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến độ dài thời gian của đêm. Vì vậy, hầu hết các nước quy định thời giờ làm đêm rất linh hoạt phụ thuộc vào địa lí, mùa trong năm. Một số quốc gia còn căn cứ vào độ tuổi, giới tính để quy định thời gian làm đêm phù hợp.

Ví dụ, Luật Tiêu chuẩn của Nhật Bản quy định thời giờ làm đêm từ 22 giờ đến 5 giờ nhưng tuỳ theo mùa, khu vực và độ tuổi để quy định từ 23 giờ tới 6 giờ hoặc 22giờ30 tới 5g30. Ở Việt Nam trước đây cũng đã từng quy định theo 2 khung giờ phụ thuộc vào thời tiết khu vực phía Bắc và Nam. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thời giờ làm việc ban đêm được xác định chung một khung giờ từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau.

Làm việc vào ban đêm có những ảnh hưởng, biến đổi nhất định đến tâm sinh lí của người lao động, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho sự phát triển của các tình trạng bệnh lí (nếu có)... Điều này dẫn đến nhu cầu được bảo vệ và bù đắp hao phí sức lao động cao hơn so với làm việc vào ban ngày. Vì vậy, pháp luật quy định người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm tiền lương so với công việc đang làm vào ban ngày.

Mặt khác, với những ảnh hưởng nhất định của làm đêm đối với sức khoẻ của người lao động nên pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các nước đều quy định hạn chế làm đêm với một số đối tượng, nhất là với lao động nữ và người chưa thành niên. Tổ chức Lao động quốc tế cũng có 3 công ước về làm đêm của lao động nữ (theo: Công ước sộ 4 năm 1919, số 41 năm 1934, số 89 năm 1946), 3 công ước vê làm đêm của lao động chưa thành niên (theo: Công ước số 6 năm 1919, số 90 năm 1938, số 79 năm 1946).

Theo pháp luật Việt Nam, những đối tượng cấm hoặc hạn chế huy động làm thêm giờ cũng chính là những đối tượng cấm hoặc hạn chế làm đêm (các điều 137,144, 160 Bộ luật lao động năm 2019).

4. Thời giờ làm việc linh hoạt

Thời giờ làm việc linh hoạt là khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Dưới góc độ nghiên cứu, khái niệm này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, đa số các nhà khoa học đều thống nhất với nhau về bản chất và đặc trưng cơ bản của thời giờ làm việc linh hoạt. Theo đó, thời giờ làm việc linh hoạt chính là việc quy định các hình thức tổ chức lao động mà trong đó có sự khác nhau về độ dài và thời điểm làm việc của người lao động so với thời gian làm việc thông thường đã được quy định theo ngày, tuần, tháng, năm làm việc.

Đặc trưng cơ bản nhất của thời giờ làm việc linh hoạt chính là sự co dãn, mềm dẻo về độ dài thời gian và thời điểm làm việc của người lao động. Các bên trong quan hệ lao động, thậm chí, những người lao động có thể thoả thuận để điều chỉnh độ dài cũng như thời điểm làm việc và tự phân phối thời gian làm việc sao cho phù hợp với nguyện vọng cá nhân và yêu cầu chung của đơn vị. Căn cứ vào thời giờ làm việc theo chế độ quy định, cho phép người lao động lựa chọn các mức thời giờ làm việc không trọn ngày, trọn tuần, trọn tháng, trọn năm khác nhau. Hình thức này được áp dụng tương đối phổ biến đối với những người làm việc theo thời giờ làm việc linh hoạt và đặc biệt có ý nghĩa tạo điều kiện để một số đối tượng như lao động nữ có gia đình, lao động chưa thành niên, người cao tuổi, người có hoàn cảnh cá nhân đặc biệt hay lao động có chuyên môn nghiệp vụ hình độ cao... có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp.

Hiện nay, làm việc theo chế độ thời giờ làm việc linh hoạt đang được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển như Hà Lan, Đức, Na Uy, Australia, Đan Mạch, Anh, Thuỵ Điển... Với những ưu điểm của mình, đặc biệt trong việc giải quyết các vấn đề việc làm, thất nghiệp, bình đẳng giới, bảo vệ lao động đặc thù... thời giờ làm việc linh hoạt đang ngày càng thu hút được sự quan tâm thực hiện ở các quốc gia. Ở Việt Nam, thời giờ làm việc linh hoạt được quy định đối với một số trường hợp tạo điều kiện vận dụng thời giờ làm việc linh hoạt như đối với những người lao động làm việc theo hợp đồng không trọn thời gian (Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019), nhận công việc về nhà làm (Điều 167 Bộ luật lao động năm 2019), khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt với lao động nữ (Điều 135 Bộ luật lao động năm 2019)...

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)