1. Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do Nhà nước quy định

Bảo vệ người lao động là nguyên tắc quan trọng nhất của luật lao động, trong đó việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được gắn liền với yêu cầu đảm bảo mục đích của an toàn, vệ sinh lao động, hạn chế sự lạm dụng sức lao động, đáp ứng nhu cầu của các bên trong quan hệ lao động. Cơ sở của nguyên tắc này không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo vệ người lao động mà còn nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong việc quy định điều kiện lao động phù hợp. Mặt khác, xuất phát từ chức năng điều tiết và phân công lao động của Nhà nước, Nhà nước buộc phải can thiệp điều chỉnh bằng việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lí.

Nhà nước có quyền quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được ghi nhận trong Hiến pháp, trên cơ sở đó cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật. Nội dung của nguyên tắc này biểu hiện ở việc Nhà nước quy định khung thời giờ làm việc ở mức tối đa và thời giờ nghỉ ngơi ở mức tối thiểu dựa trên việc tiêu chuẩn hoá thời giờ giờ làm việc. Vỉ dụ, thời giờ làm việc của người lao động bình thường không quá 8 giờ/ngày hoặc 48 giờ/tuần, trường hợp làm theo tuần thì ngày làm việc không quá 10 giờ, nếu huy động làm thêm cũng không huy động quá 50% số giờ làm việc trong ngày, 30 giờ trong 1 tháng, không quá 200 giờ trong một năm, trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ trong một năm (các điều 105, 106, 107... Bộ luật lao động năm 2019). Bằng cách đưa ra các cụm từ “không quá”, “ít nhất” đã đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt cho các bên tự do thoả thuận và áp dụng chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phù họp với điều kiện cụ thể. Riêng đối với cơ quan nhà nước, do đặc thù quan hệ lao động nên quy định và áp dụng thời giờ làm việc nghỉ ngơi có tính chất bắt buộc, không đơn vị nào có quyền thoả thuận hoặc tự ý thay đổi thời giờ làm việc đã ấn định.

>> Xem thêm: Thời giờ làm việc là gì? Ý nghĩa quy định thời giờ làm việc?

 

2. Nguyên tắc đảm bảo tự do thoả thuận về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi trong quan hệ lao động

Mặc dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động do Nhà nước quy định nhung để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền tự định đoạt của người lao động, người sử dụng lao động việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngoi phải đảm bảo nguyên tắc tự do thoả thuận, phù họp với pháp luật. Vì là nghĩa vụ của người lao động, những người ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động nên những thoả thuận này được khuyến khích theo hướng có lợi cho người lao động.

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện rõ ở việc Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô bằng việc quy định giới hạn pháp luật về thời giờ làm việc, làm thêm, nghỉ ngơi... Việc cụ thể hoá như thế nào tuỳ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia trên cơ sở thoả thuận, thương lượng phù hợp điều kiện, đặc điểm riêng. Thông thường các thoả thuận này được ghi nhận trong thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và người sử dụng lao động có quyền đưa vào thành nội dung của nội quy lao động. Khi đã được thống nhất ý chí trên cơ sở phù hợp pháp luật, những thoả thuận này là cơ sở cho việc thực hiện và giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể.

Không chỉ dừng ở đó, nguyên tắc này còn thể hiện ở việc Nhà nước luôn khuyến khích những thoả thuận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có lợi cho người lao động. Trong khả năng của mình, người sử dụng lao động có thể áp dụng giảm giờ làm việc mà vẫn đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này được thể hiện rõ ữong các quy định khuyến khích giảm giờ làm: “Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đổi với nguời lao động" (Điều 105 Bộ luật lao động năm 2019). Thực hiện nguyên tắc này, một mặt đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của người sử dụng lao động, quyền tự định đoạt của người lao động, mặt khác bảo vệ được quyền lợi của người lao động.

 

3. Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc đối với một số đối tượng đặc biệt, làm những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Xuất phát từ đặc điểm riêng của một số đối tượng lao động, một số ngành nghề, công việc nhất định mà đòi hỏi phải có những điều chỉnh riêng. Giống như hầu hết pháp luật các nước, nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc ở Việt Nam được áp dụng trước hết đối với đối tượng là người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi... Các nghiên cứu sinh học cho thấy, với lượng công việc như nhau thì mức hao phí sức lao động bỏ ra của họ cao hơn so với lao động bình thường và do vậy khả năng phục hồi sức khoẻ, tái tạo sức lao động cũng lâu hơn. Vì vậy, đòi hỏi sự công bằng trong khai thác lao động. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở việc quy định giảm số thời giờ làm việc tối đa, tăng số thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu so với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bình thường, quy định hạn chế hơn trong các trường hợp làm thêm giờ, làm đêm.

Từ góc độ điều chỉnh pháp luật, cũng cần lưu ý việc quy định và thực hiện nguyên tắc này trên thực tế cũng có thể dẫn tới “tác dụng ngược” bằng việc tạo rào cản, không khuyến khích sử dụng lao động đặc thù. người sử dụng lao động “ngại” sử dụng lao động này bởi việc rút ngắn thời gian làm việc không đồng nghĩa với việc được giảm lương. Chính vì vậy, việc đảm bảo nguyên tắc này trong quy định và thực hiện pháp luật luôn được cân nhắc phù hợp.

>> Tham khảo thêm: Quy định về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi theo bộ luật lao động

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)