1. Mức phạt nồng độ cồn khi điều khiển xe máy, ô tô ?

Nhận thấy nhu cầu của khách hàng hiện nay, có nhiều khách hàng đang thắc mắc mức xử phạt đối với lỗi vi phạm vượt quá nồng độ cồn cho phép đối với ô tô cũng như xe máy. Do vậy, công ty Luật Minh Khuê xin tổng hợp nhanh các mức xử phạt lỗi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển xe máy và ô tô mới nhất như sau:

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô; xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy; xe máy kéo, xe máy chuyên dùng vi phạm quy tắc giao thông đường bộ:

Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô:

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Người điều khiển xe còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng. Trong trường hợp gây ra tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng.

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Người điều khiển xe còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng.

- Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; Hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Người điều khiển xe còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng.

Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lai xe từ 01 tháng đến 03 tháng.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ; Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng.

Đối với người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng:

- Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 01 tháng đến 03 tháng.

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 01 tháng đến 03 tháng. Trong trường hợp gây ra tai nạn thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 tháng đến 04 tháng.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 tháng đến 04 tháng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về việc xử phạt vi phạm hành chính ?

2. Xử phạt Lỗi uống rượu/bia khi tham gia giao thông ?

Luật Minh Khuê tư vấn về mức xử phạt hành chính đối với hành vi vượt quá nồng độ cồn (uống rượu/bia) khi tham gia giao thông theo quy định của luật giao thông đường bộ:

Trả lời:

1. Xử phạt vi phạm hành chính khi điều khiển xe có nồng đồ cồn vượt mức quy định

a, Xử phạt với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô (Nghị định 171/2013/NĐ-CP (nghị định 46/2016/NĐ-CP) xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ đường sắt)

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng : Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức 50 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng : Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với

- Người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

- Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

b, Xử phạt với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

​Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

- Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

- Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

- Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Mức bồi thường

- Gây thiệt hại về tài sản :trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

+ Tài sản bị mất;

+ Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

- Gây thiệt hại về sức khỏe

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

- Gây thiệt hại về tính mạng

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

4. Trách nhiệm hình sự

Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật dân sự 2005 ở trên, người gây tai nạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có căn cứ Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp sau:

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng được hiểu như sau:

+ Làm chết một người;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

+ Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

+ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

+ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

+ Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Xử lý vi phạm hành chính vì mang gậy 3 khúc trong người bị phạt bao nhiêu tiền ?

3. Xử lý trong trường hợp đụng xe với người say rượu ?

Chào luật sư! Em muốn hỏi luật sư vấn đề như thế này. Cha em đang trong tình trạng say rượu nhưng chạy xe gắn máy, xe chạy với tốc độ chậm. Có một xe gắn máy khác chạy ngược chiều, do vượt xe tải nên lấn sang phần đường bên cha em và đụng vào xe cha em. Tình trạng cha em bị dập não phải và nhiều vết thương trên người, còn người kia cũng bị trầy bên ngoài, nhưng không bị thương phần bên trong.
Giờ cha em vẫn đang nằm điều trị trong chợ rẫy, gia đình em cũng khó khăn. Cho em hỏi trong trường hợp như vậy thì bên nào phải bồi thường thiệt hại cho đối phương và có phải chịu trách nhiệm gì thêm không ạ ?
Em cám ơn luật sư.

Trả lời:

Thứ nhất, về vấn đề bên nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 của Quốc hội: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

- Căn cứ khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008: “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”.

Như vậy do người đi xe gắn máy ngược chiều trên vượt xe khi có xe của cha bạn đang đi ngược chiều là vi phạm khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008; xuất phát từ hành vi đó mà khiến xe gắn máy đi không đúng làn đường quy định, lấn sang bên phía đường đi mà cha bạn đang đi vi phạm khoản 1 điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Đây là hành vi trái pháp luật.

- Căn cứ khoản1 điều 604 Bộ luật dân sự: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Từ phân tích nêu trên hành vi của người điều khiển xe gắn máy là hành vi có lỗi và trái pháp luật khi tham gia giao thông và cũng chính từ hành vi đó gây nên hậu quả làm cho cha của bạn bị dập não và nhiều vết thương. Vì vậy căn cứ khoản 1 điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 người điều khiển xe gắn máy là người phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cha bạn theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, về vấn đề trách nhiệm phải chịu thêm.

- Căn cứ khoản 8 điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008: “8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở. “

Do bố bạn điều khiển xe trong tình trạng say rượu vi phạm khoản 8 điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 nhưng việc gây ra tai nạn không phải xuất phát từ hành vi điều khiển xe trong tình trạng say rượu mà từ hành vi của người điều khiển xe gắn máy, nên căn cứ vào nồng độ cồn trong máu của cha bạn để có thể xác định cha bạn có thể bị xử phạt vi phạm theo quy định

- Căn cứ điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổsung một số điều của Quốc hội): “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

- Căn cứ khoản 1 điều 2 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC: “ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:b) Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;”.

Dựa vào kết quả tỷ lệ thương tật của cha bạn mà người điều khiển xe gắn máy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự.

>> Xem thêm:  Hàng triệu thuê bao điện thoại di động phải bổ sung ảnh chụp chân dung chính chủ nếu không muốn bị dừng dịch vụ hoặc bị phạt ?

4. Uống rượu, bia bị xử phạt thế nào khi tham gia giao thông ?

Văn hóa rượu bia ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhưng vụ tai nạn giao thông kinh hoàng. Luật Minh Khuê trích dẫn một số quy định cụ thể về việc xử phạt vi phạm hành chính đôi với việc uống rượu bia ...:

Trả lời:

Theo quy định hiện hành dựa vào 02 văn bản về xử phạt hành chính cụ thể:

- Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 ngày 11 tháng 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt được sửa đổi, bổ sung.

- Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17 ngày 11 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Nồng độ cồn

Người điều khiển ô tô

Người điều khiển xe máy

Người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng

Dưới 50 miligam/100 mililit máu hoặc < 0,25="" miligam/1="" lít="" khí="">

2.000.000 đồng – 3.000.000 đồng (khoản 5, điều 5, VBHN số 19/VBHN-BGTVT năm 2014 hợp nhất Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt do Bộ Giao thông vận tải ban hành

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1 tháng (điểm b, khoản 11, VBHN số 19)

Không xử phạt

400.000 đồng – 600.000 đồng (điểm d, khoản 4, điều 7, VBHN số 19)

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 01 tháng (điểm a, khoản 9, VBHN số 19)

50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc >0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở

7.000.000 đồng – 8.000.000 đồng (điểm b, khoản 7, điều 5, VBHN số 19)

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 2 tháng (khoản 11, điều 5, VBHN số 19)

500.000 đồng– 1.000.000 đồng (điểm b, khoản 5, điều 6, VBHN số 19)

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1 tháng (điểm bm khoản 10, VBHN số 19)

1.000.000 đồng – 3.000.000 đồng (điểm a, khoản 6, điều 7, VBHN số 19)

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 01 tháng (điểm a, khoản 9, VBHN số 19)

>80 miligam/100 mililít máu hoặc >0,4 miligam/1 lít khí thở

10.000.000 đồng– 15.000.000 đồng (điểm a, khoản 8, điều 5, VBHN số 19).

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 2 tháng (khoản 11, điều 5, VBHN số 19)

2.000.000 đồng – 3.000.000 đồng (điểm e, khoản 6, điều 6, VBHN số 19).

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 2 tháng (khoản 10, điều 6, VBHN số 19)

3.000.000 đồng – 5.000.000 đồng (điểm a, khoản 7, điều 7, VBHN số 19)

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 02 tháng

Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư qua tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6162 hoặc gửi thư qua emai: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để được hỗ trợ trực tuyến.

>> Xem thêm:  Hợp đồng mượn xe máy có bắt buộc công chứng không ? Thủ tục đòi lại tài sản cho mượn

5. Tư vấn về việc đi xe đâm phải người say rượu băng qua đường ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vào khoảng 21h tối tôi có điểu khiển xe mấy chạy trên đường nhựa rộng khoảng 5m - 6m ở nông thôn. Khi đang chạy xe thì có 1 người say rượu (nồng độ cồn đo được là 160miligam/100mililit máu) đi qua lộ hay làm gì tôi không biết, khi tôi chạy tới thì đụng phải giờ thì bị rãi chân, tôi thì té bị trầy mặt sơ, xe thì bị bể đèn nhẹ, tốc độ lúc chạy khoảng 60km/h. Vậy trong trường hợp này tôi có lỗi hay bên kia có lỗi ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.V.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi.Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu, vào khoảng 21h tối bạn có điểu khiển xe mấy chạy trên đường nhựa rộng khoảng 5m - 6m ở nông thôn. Khi đang chạy xe thì có 1 người say rượu (nồng độ cồn đo được là 160miligam/100mililit máu) đi qua lộ. Khi bạn chạy tới thì đụng phải giờ thì bị rãi chân, bạn thì té bị trầy mặt sơ, xe thì bị bể đèn nhẹ, tốc độ lúc chạy khoảng 60km/h. Tuy nhiên, bạn chưa đề cập rõ với chúng tôi về tốc độ được phép di chuyển được quy định cho các phương tiện giao thông đường bộ tại khu vực mà bạn di chuyển cũng như việc bạn có tuân thủ các yêu cầu khác về an toàn giao thông hay không nên trường hợp của bạn cần được chia thành các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Bạn tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn giao thông, chẳng hạn về tốc độ xe theo quy định của Luật giao thông đường bộ 2008:

“ Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đặt biển báo tốc độ trên các tuyến đường do địa phương quản lý.”

Trong trường hợp đó, khi bạn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật giao thông đường bộ, không sử dụng các chất kích thích như rượu bia vượt quá nồng đọ cho phép thì bạn không có lỗi trong trường hợp này. Việc bên kia bên kia bị thương có thể do họ có sử dụng chất kích thích hoặc do lỗi vô ý. Do đó, bạn không có nghĩa vụ bồi thường cho bên kia theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

“Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.”

Đồng thời, bạn có thể yêu cầu bên kia tiến hành bồi thường thiệt hai với các thiệt hại của bạn theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005.

Trường hợp 2: Bạn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn giao thông đông thời bên kia cũng có lỗi do say rượu (nồng độ cồn đo được là 160miligam/100mililit máu) đi qua lộ. Trong trường hợp này, cả hai bên cùng có lỗi thì sẽ tiến hành bồi thường theo mức độ lỗi của mình theo quy định tại điều 617 Bộ luật Dân sự 2005 như đã nêu trên. Hai bên trong trường hợp này cần xác định cụ thể thiệt hại và mức độ lỗi của mình.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Khi điều khiển xe 50cc cần những giấy tờ gì ạ ? Mức bồi thường tai nạn giao thông