1. Quy định về xử lý vi phạm nồng độ cồn khi tham gia giao thông

Mức xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác:

Theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 8 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ban hành ngày 30/12/2019, người điều khiển xe thực hiện hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng. Mức xử phạt này nhằm đảm bảo an toàn giao thông và giảm thiểu rủi ro tai nạn do ảnh hưởng của cồn đối với khả năng điều khiển xe của người tham gia giao thông.

Ngoài ra, theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 8 của cùng Nghị định, nếu người điều khiển xe có nồng độ cồn trong máu từ 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc từ 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì mức phạt sẽ tăng lên từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Điều này nhằm xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nặng hơn, tạo sự răn đe cho các hành vi uống rượu bia khi tham gia giao thông.

Đối với những trường hợp nghiêm trọng hơn, theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 8 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. Mức phạt này được áp dụng để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cao đối với cộng đồng và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Mức xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

Theo quy định tại điểm c khoản 6 và điểm đ khoản 10 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe thực hiện hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng. Mức xử phạt này nhằm răn đe và ngăn ngừa các hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ liên quan đến cồn.

Nếu người điều khiển xe có nồng độ cồn trong máu từ 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc từ 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, theo quy định tại điểm c khoản 7 và điểm e khoản 10 Điều 6 của Nghị định, sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 16 tháng đến 18 tháng. Mức xử phạt này được áp dụng để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nghiêm trọng hơn, bảo vệ an toàn cho người tham gia giao thông.

Đối với những trường hợp nghiêm trọng nhất, theo quy định tại điểm e khoản 8 và điểm g khoản 10 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng.

Mức xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng:

Theo quy định tại điểm c khoản 6 và điểm d khoản 10 Điều 7 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Đồng thời, người vi phạm sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (đối với người điều khiển máy kéo) hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (đối với người điều khiển xe máy chuyên dùng) trong khoảng thời gian từ 10 tháng đến 12 tháng. 

Theo quy định tại điểm b khoản 7 và điểm đ khoản 10 Điều 7 của Nghị định, nếu nồng độ cồn trong máu của người điều khiển xe vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, mức phạt sẽ tăng lên từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ trong thời gian từ 16 tháng đến 18 tháng.

Đối với những trường hợp nặng nhất, theo quy định tại điểm a khoản 9 và điểm e khoản 10 Điều 7 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, nếu nồng độ cồn trong máu của người điều khiển xe vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, mức phạt tiền sẽ từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng. Người vi phạm cũng sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ trong thời gian từ 22 tháng đến 24 tháng. 

Mức xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô:

Theo quy định tại điểm c khoản 6 và điểm e khoản 11 Điều 5 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng.

Theo quy định tại điểm c khoản 8 và điểm g khoản 11 Điều 5 của Nghị định, nếu nồng độ cồn trong máu của người điều khiển xe vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, mức phạt sẽ là từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng và người vi phạm sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 16 tháng đến 18 tháng.

Đối với các trường hợp vi phạm nặng nhất, theo quy định tại điểm a khoản 10 và điểm h khoản 11 Điều 5 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, nếu nồng độ cồn trong máu của người điều khiển xe vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, mức phạt tiền sẽ từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Người vi phạm cũng sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng. 

2. Hành vi vi phạm nồng độ cồn nhưng không ký biên bản vi phạm mà bỏ xe máy lại

Hành vi vi phạm nồng độ cồn nhưng không ký biên bản vi phạm mà bỏ xe máy lại đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. Không chỉ thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với cán bộ cảnh sát giao thông, hành vi này còn vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông cao và kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Thiếu tôn trọng và vi phạm pháp luật

Khi vi phạm nồng độ cồn, người điều khiển phương tiện đã vi phạm Luật Giao thông đường bộ. Việc bỏ xe máy và không ký biên bản là hành vi trốn tránh trách nhiệm, thể hiện sự coi thường và thiếu tôn trọng đối với lực lượng cảnh sát giao thông, những người đang làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

 Nguy cơ mất an toàn giao thông cao

Người điều khiển phương tiện khi say rượu bia đã mất khả năng kiểm soát hành vi, tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông cao cho bản thân, người khác và cộng đồng. Việc bỏ xe máy càng khiến cho việc xử lý vi phạm trở nên khó khăn hơn, gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn do người vi phạm tiếp tục điều khiển phương tiện khi say rượu bia.

Hậu quả nghiêm trọng

Bỏ xe máy khi vi phạm nồng độ cồn có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như:

- Bị phạt tiền: Theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP, người vi phạm nồng độ cồn có thể bị phạt tiền từ 4 triệu đến 12 triệu đồng đối với xe máy.

- Bị tước giấy phép lái xe: Hành vi vi phạm nồng độ cồn có thể dẫn đến việc bị tước giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 24 tháng.

- Xe máy bị tạm giữ: Cảnh sát giao thông có quyền lập biên bản tạm giữ phương tiện vi phạm nồng độ cồn nếu người vi phạm không chấp hành hoặc bỏ trốn.

- Gây tai nạn giao thông: Việc điều khiển phương tiện khi say rượu bia tiềm ẩn nguy cơ cao gây tai nạn giao thông, dẫn đến thương vong và thiệt hại về tài sản.

3. Quy trình xử lý vi phạm trong trường hợp vi phạm nồng độ cồn không ký biên bản mà bỏ xe máy lại

Theo quy định pháp luật hiện hành, không có điều khoản cụ thể áp dụng đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn mà không ký biên bản vi phạm và bỏ phương tiện lại tại hiện trường.

Căn cứ theo khoản 9 Điều 11 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được thay thế bởi điểm h khoản 34 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP, quy định về xử phạt các hành vi vi phạm khác liên quan đến quy tắc giao thông đường bộ như sau:

Xử phạt các hành vi vi phạm khác về quy tắc giao thông đường bộ:

- Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại khoản 9, điểm b, điểm d khoản 10 Điều 5; điểm g, điểm i khoản 8, khoản 9 Điều 6; điểm b, điểm d khoản 9 Điều 7; điểm d khoản 4 Điều 8; điểm b khoản 5 Điều 33 Nghị định này.

Theo đó, trong trường hợp vi phạm nồng độ cồn mà không ký biên bản vi phạm và bỏ phương tiện lại, hành vi này có thể bị xử lý vi phạm hành chính với lý do cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ. Mức phạt tiền sẽ từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm, và từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm.

Ngoài ra, dù người vi phạm bỏ phương tiện lại và không ký vào biên bản xử phạt, việc xử phạt vẫn có hiệu lực và cá nhân, tổ chức vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi bởi điểm b khoản 64 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính như sau:

Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính: 

- Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ và phải có chữ ký của người thực hiện việc tạm giữ, người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm; trường hợp không có chữ ký của người vi phạm thì phải có chữ ký của ít nhất 01 người chứng kiến. Biên bản phải được lập thành 02 bản, giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản.

Như vậy, trong trường hợp người vi phạm nồng độ cồn mà không ký biên bản vi phạm và bỏ phương tiện lại, người xử lý vi phạm sẽ tiến hành lập biên bản tạm giữ phương tiện mà không cần chữ ký của người vi phạm.

Xem thêm: Không ký vào biên bản xử phạt vi phạm hành chính thì có phải nộp phạt hay không?

Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất!