>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Các nguyên tắc trong sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản gồm:
Vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là vấn đề quan trọng liên quan đến nhiều mối quan hệ xã hội nên các chủ thể tham gia cần tuân thủ các quy định của pháp luật. Ngoài những nguyên tắc mà Bộ luật Dân sự mà chủ thể tham gia cần tuân thủ các chủ thể tham gia cần tuân thủ các nguyên tắc trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Chính phủ ban hành Nghị Định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai vì mục đích nhân đạo, trong đó, tại Điều 3 của nghị định quy định cụ thể về nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
1. Nguyên tắc nhân đạo
Khoản 1 Điều 3 Nghị Định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”
Nguyên tắc này khẳng định việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với mục đích nhân đạo. Như vậy, chủ thể được phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân, cặp vợ chồng vô sinh bất kỳ không kể tôn giáo, dân tộc đều có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Riêng cặp vợ chồng vô sinh có nhu cầu nhờ mang thai hộ phải thỏa mãn các điều kiện về nhờ người mang thai hộ theo khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình. Cặp vợ chồng vô sinh phải được chứng minh hôn nhân hợp pháp của mình thông qua giấy đăng ký kết hôn và giấy chỉ định của bác sỹ về tình hình sức khỏe. Phụ nữ độc thân muốn mang thai cần có giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; phụ nữ độc thân đã ly hôn cần giấy quyết định cho phép ly hôn của tòa án. Bất kể trường hợp nào không tuân thủ nguyên tắc nhân đạo đều không được chấp thuận và bị coi là vi phạm quy định của pháp luật.
2. Nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận
Khoản 2 Điều 3 Nghị Định số 10/2015/NĐ – CP: “Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ” . Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Chương II Nghị định 10/2015/ NĐ-CP. Khoản 3 Điều 4 quy định về việc cho tinh trùng, cho noãn: “Cơ sỏ khám chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng”. Khoản 5 Điều 5 quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi”. Những quy định này nhằm bảo vệ đời tư của cả hai đối tượng bên cho và bên nhận khi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nguyên tắc này có ý nghĩa là người nhận tinh trùng hoặc người nhận phôi không được biết đến danh tính cũng như lý lịch của người cho và ngược lại người cho cũng không biết đến các thông tin của người nhận. Việc đưa ra nguyên tắc này là để tránh trường hợp người nhận và người cho biết thông tin lẫn nhau sẽ gây rắc rối về mặt tình cảm, nhiều khi dẫn đến những phiền phức về mặt xã hội, vì khi biết được đứa trẻ “mang dòng máu” của mình một lẽ đương nhiên sẽ nảy sinh tình cảm đặc biệt trên cơ sở đó có thể dẫn đến những bất lợi hoặc hậu quả không hay. Vì lý do đó nên mặc dù có những bệnh nhân xin một trong những người trong gia đình hoặc dòng họ thì cũng không được chấp nhận.
Nguyên tắc vô danh không áp dụng tuyệt đối do thông tin về dân tộc của người cho phải công khai. Thông tin về nhân thân như họ tên, tuổi, địa chỉ của người cho tinh trùng, noãn, phôi được mã hóa. “Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc” (khoản 4 Điều 3 Nghị Định số 10/2015/NĐ – CP). Theo quy định này, sẽ không cung cấp thông tin cá nhân người cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, quy định như vậy để tránh tình trường hợp người cho tinh trùng, cho noãn đòi lại con. Tuy nhiên, vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc để tránh trường hợp các con sau này của người được sinh ra kết hôn cùng huyết thống. Luật quy định tính bảo mật về thông tin, đặc điểm đặc biệt như chủng tộc vì theo sinh học, con sinh ra sẽ có gen từ người cho tinh trùng, noãn.
3. Nguyên tắc tự nguyện
“Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện” (khoản 3 Điều 3 Nghị Định số 10/2015/NĐ – CP). Theo quy định này, việc thực hiện kỹ thuật sinh sản, người cho, nhận tinh trùng, cho, nhận noãn phải tự nguyện và chỉ cho tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Đối với cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ đơn thân sự tự nguyện thể hiện dưới dạng văn bản là đơn đề nghị thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Đối với cặp vợ chồng vô sinh trong đơn đề nghị cần ghi rõ họ tên, tuổi, hai vợ chồng cùng ký vào đơn đề nghị.[2]
Nguyên tắc này đảm bảo ý chí tự do, tự nguyện của chủ thể thực hiện. Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là một kỹ thuật phức tạp, chi phí tương đối cao so với thu nhập trung bình của người Việt Nam; đồng thời yêu cầu chủ thể tham gia phải trải qua hàng loạt những bước kiểm tra, xét nghiệm, đáp ứng các điều kiện y học và pháp lý để thực hiện ký thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Không ai có thể ép buộc một người cho và nhận noãn hoặc tinh trùng hoặc phôi hoặc mang thai hộ bởi đây là vấn đề có liên quan đến sức khỏe, tính mạng của cá nhân. Việc quy định như vậy cũng đảm bảo quyền tự do của mỗi người.
4. Nguyên tắc tuân thủ theo quy trình kỹ thuật
Theo khoản 5 Điều 3 Nghị Định số 10/2015/NĐ – CP: “Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành” Như vậy, việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, tiêu chuẩn sức khỏe tuân thủ phải tuân theo quy trình kỹ thuật do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. Quy trình kỹ thuật của việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại Chương IV thông tư 57/2015/TT-BYT. Chương IV gồm 21 điều, đưa ra những trình tự thủ tục cầ thiết đối với các chủ thể tham gia kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Vì đây là cơ quan chuyên môn, hiểu rõ quy trình tiến hành việc hỗ trợ kỹ thuật sản, quy định tránh được tình trạng các tổ chức, cá nhân tùy tiện trong việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Nguyên tắc làm căn cứ pháp lý giúp các chủ thể `liên quan thực hiện, tuân thủ đúng.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!