Nguyên tắc của việc sinh con theo kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Thứ nhất, các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa:

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc sinh con theo phương pháp khoa học. Cần phải hiểu rằng “cặp vợ chồng vô sinh” theo quy định tại Nghị định 12/NĐ-CP là cặp vợ chồng hợp pháp, tức là cặp vợ chồng vô sinh có đăng ký kết hôn hợp pháp hoặc có hôn nhân thực tế (nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 30/01/1987 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không kết hôn). Hiện nay tỷ lệ vô sinh là vô cùng lớn, chiếm khoản 10 đến 18% trong các cặp vợ chồng. đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà cho chung cả xã hội. Nghị định của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học không chỉ tạo điều kiện mang  lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý chuyên môn và cho mọi người muốn đến điều trị vô sinh.

Sinh con cho người phụ nữ độc thân phần nào do cuộc sống hiện đại ngày nay. Ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn kết hôn nhưng lại muốn có một đứa con. Theo khảo sát ban đầu làn sóng sinh con theo phương pháp này bắt đầu từ giới tri thức, người nổi tiếng, thành đạt. Tuy nhiên gần đây những người phụ nữ bình thường cũng bắt đầu tìm đến phương pháp này khi họ không muốn kết hôn

Thứ hai, việc tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành:

Sinh con theo phương pháp khoa học là một quy trình tốn kém về thời gian và tiền bạc. Các thao tác của quá trình này yêu cầu sự nghiêm ngặt để bảo đảm chất lượng của phương pháp. Tất cả các thao tác trong hoạt động này đòi hỏi tính chính xác cao bởi vì nếu xảy ra sơ xót thì sẽ để lại những sai lầm nghiêm trọng. Yêu cầu cao như vậy với mỗi thao tác nhưng cho đến này Bộ Y tế vẫn chưa ban hành được quy trình kỹ thuật hỗ trợ sinh sản áp dụng cho các cơ sở được công nhận đủ điều kiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vì vậy nhiều cơ sở vẫn còn lung túng trong việc thực hiện.

Thứ ba, việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: cho noãn, nhận noãn, cho tinh trùng, nhận tinh trùng, cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện:

Các bên tham gia phải tự nguyện ở đây là sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh và người cho noãn, tinh trùng. Các bên tham gia phải ký thỏa thuận giữa người cho noãn, có chữ ký đầy đủ của vợ, chồng (nếu có) người cho và vợ chồng người nhận hoặc bản cam kết cho tinh trừng giữa người cho với cơ sở y tế lưu trữ tinh trùng.

Thứ tư, việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật:

Nguyên tắc này có ý nghĩa là người nhận tinh trùng hoặc người nhận phôi không được biết đến danh tính cũng như lý lịch của người cho và ngược lại  người cho cũng không biết đến các thông tin của người nhận. Việc đưa ra nguyên tắc này là để tránh trường hợp người nhận và người cho biết thông tin lẫn nhau sẽ gây rắc rối về mặt tình cảm, nhiều khi dẫn đến những phiền phức về mặt xã hội, vì khi biết được đứa trẻ “mang dòng máu” của mình một lẽ đương nhiên là sẽ nảy sinh tình cảm đặc biệt trên cơ sở đó có thể dẫn đến những bất lợi hoặc hậu quả không hay. Vì lý do đó nên mặc dù có những bệnh nhân xin một trong những người trong gia đình hoặc dòng họ thì cũng không được chấp nhận. Nhưng vì quan niệm vầ truyền thống văn hóa nước ta vẫn rất nhiều người lách luât, móc nối vơi các cơ sở y tế để thực hiện vẫn đang còn nhiều. vì vậy pháp nghiên cứu kỹ vấn đề này.

Thứ năm, nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính:

Mang thai hộ là trường hợp sau khi thụ tinh trong ống nghiệm, nếu người mẹ vì lý do sức khỏe hay vì điều kiện nào đó mầ không thể mang thai, phải nhờ đến người phụ nữ khác mang thai và sinh đẻ. Theo quan niệm từ lâu đời vẫn cho rằng người nào sinh ra đứa trẻ thì chính là mẹ đẻ của đứa trẻ, tình cảm của người mẹ dành cho con bắt đầu từ khi mang thai đến ngày sinh ra, mối liên hệ tình cảm cũng hình thành từ ngày đó. Hành động mang thai hộ cũng phần nào làm mất đi sự thiêng liêng của tình mẫu tử khi người mẹ vốn mang nặng đẻ đau sinh ra đứa trẻ lại không phải là mẹ ruột của đứa trẻ. Để xác định ai là mẹ của đứa trẻ trong vấn đề mang thai hộ là rất khó khắn, vì thế nên các nhà làm luật cho rằng nên cấm quy định mang thai hộ.

Sinh sản vô tính: vẫn thường được gọi là nhân bản người, rất nhiều người cho rằng sinh sản vô tính đi ngược lại tự nhiên, đạo đức, tôn giáo và pháp luật. Hiện nay đại đa số các quốc gia trên thế giới cấm sinh sản vô tính ở người Ngày 01/03/2001, Nghị định thư về cấm sinh sản vô tính ở người đã có hiệu lực chính thức sau khi được cơ quan lập pháp của 5 nước thông qua là Tây ban Nha, Hy Lạp, Slovakia, Sloenia đây là thỏa thuận đầu tiên về cấm sinh sản vô tính ở người được áp dụng. Ngày 04/12/2001, Anh ban hành đạo luật  nhân bản người, đạo luật này không cấm tuyệt đối nhân bản người mà chỉ không cho phép đưa phôi nhân bản vào tử cung phụ nữ. Như thế, các nhà khoa học vẫn có thể sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam Nghị định về sinh con theo phương pháp khoa học thì sinh sản vô tính được quy định là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.

Thứ sáu, tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người:

Việc này nhằm hạn chế tối đã những đứa trẻ có cùng huyết thống nhưng được sinh ra từ những gia đình khác nhau mà trên mặt pháp lý lại không phải là anh chị em ruột. Quy định này vẫn đảm bảo tính bảo mật riêng tư của người cho nhưng lại phải đòi hỏi địa chỉ rõ rang của người nhận. Vì vậy đòi hỏi cơ quan y tế thực hiện quy trình này này phải có trách nhiệm, cẩn thận trong bảo quản và vận chuyển để bảo đảm chỉ sử dụng cho một người duy nhất mà thôi.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê