>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Trên thực tế, có rất nhiều phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện nay như: Thuốc kích thích rụng trứng; thụ tinh nhân tạo (IUI); sử dụng tinh trùng hiến tặng; thụ tinh trong ống nghiệm (IVF); tiêm tinh trùng vào bào tương trứng; sử dụng trứng hiến tặng; mang thai hộ; sử dụng phôi thai hiến tặng...nhưng trong phạm vi bài luận này, tác giả sẽ nói đến phương pháp: thụ tinh trong ống nghiệm, thụ tinh nhân tạo, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
1. Phương pháp thụ tinh nhân tạo
Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo được hiểu là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi. Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, thụ tinh nhân tạo hay còn gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn.
Cũng theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Noãn là giao tử của nữ.”; “Tinh trùng là giao tử của nam.”; “Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng.”
Ngân hàng tinh trùng là nơi tập hợp các mẫu tinh trùng được gửi vào để lưu giữ, bảo quản tinh trùng phục vụ cho việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc vì nguyện vọng lưu giữ cá nhân. Ngoài ra, ngân hàng tinh trùng còn có chức năng cung ứng tinh trùng cho cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc hiến tặng cho các cơ sở làm nghiên cứu khoa học.
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng là việc ngân hàng tinh trùng cung ứng tinh trùng cho người phụ nữ có nhu cầu để họ thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Vậy đây là trường hợp người phụ nữ dùng noãn của chính mình kết hợp với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng tạo thành phôi. Phôi được phát triển trong tử cung của người phụ nữ đó. Đứa trẻ sinh ra có chung huyết thống của người phụ nữ sinh ra đứa trẻ đó và huyết thống của người đã gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng.
Ở Việt Nam, thụ tinh nhân tạo trên vật nuôi được ứng dụng đầu tiên vào năm 1957 tại Học viện Nông - Lâm, nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Thụ tịnh nhân tạo được áp dụng trên lợn vào năm 1958, trên bò vào năm 1960, trên trâu vào năm 1961, trên ngựa vào năm 1964. Năm 1970, cơ sở đông lạnh tinh dịch bò dạng viên được xây dựng tại Moncada thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Năm 1986, Viện Chăn nuôi đã ứng dụng thành công thụ tinh nhân tạo trên gà, năm 1990 trên ngỗng, năm 1991 ứng dụng cho lai xa giữa ngan và vịt, năm 1995 ứng dụng trên cho dê, năm 1997 ứng dụng trên chó nghiệp vụ. Đến nay, thụ tinh nhân tạo được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn và bò.
2. Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.”. Đây là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ, được áp dụng điều trị hiếm muộn trong các trường hợp: Tắc nghẽn ống dẫn trứng; lạc nội mạc tử cung; tinh trùng ít, yếu, dị dạng; xin trứng…Đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao.
Ở Việt Nam, kể từ khi chương trình thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) bắt đầu, đã có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe và sự phát triển của những bé sinh ra từ các kỹ thuật này. Ða số những nghiên cứu đều cho thấy các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON và các kỹ thuật tương đương có tỷ lệ dị tật bẩm sinh và sự phát triển tâm lý không khác biệt so với trẻ bình thường. Riêng tại Việt Nam, chương trình TTTON được tiến hành và những em bé đầu tiên đã trên 5 tuổi. Theo thống kê tại BV. Phụ sản Từ Dũ, tính đến tháng 11/2003, số trẻ ra đời từ chương trình TTTON của bệnh viện là gần 1.100. Trong những năm qua, BV. Phụ sản Từ Dũ đã có nhiều chương trình theo dõi sức khỏe và sự phát triển của các cháu một cách liên tục. Trong buổi kỷ niệm 20 năm thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam (1997-2017) diễn ra tại TPHCM, ngày 17-4, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, cho biết Việt Nam đã làm chủ công nghệ và là một trong những nước dẫn đầu khu vực về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, được thế giới công nhận. Chi phí điều trị bệnh này ở Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới.
Theo thống kê của Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh Việt Nam, đến nay đã có gần 200.000 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện tại Việt Nam, với hơn 40.000 em bé ra đời từ kỹ thuật này.
Việt Nam có 24 trung tâm TTTON đang hoạt động và một số trung tâm chuẩn bị ra đời. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 20.000 trường hợp TTTON được thực hiện ở Việt Nam và là nước thực hiện TTTON nhiều nhất khu vực ASEAN. Hàng năm Việt Nam còn đào tạo hàng trăm lượt bác sĩ, chuyên viên phôi học cho các nước trong khu vực như Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Myanmar, Campuchia, Úc..[2]
3. Phương pháp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo quy định tại khoàn 23 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 : “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.”
Luật Hôn nhân và gia đình đã chính thức thừa nhận và cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể từ Điều 93 đến Điều 98 Luật hôn nhân gia đình 2014), song phải được thực hiện trên những điều kiện theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như: cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản... Theo đó, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: “ là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.”Luật pháp Việt Nam về hôn nhân và gia đình năm 2014 chính thức được thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, trong đó điểm nổi bật nhất là việc thay thế cho hợp pháp vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!