- 1. Khái niệm về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- 2. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- 2.1. Thụ tinh nhân tạo
- 2.2. Thụ tinh trong ống nghiệm
- 3. Các trường hợp được áp dụng
- 3.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
- 3.2. Đối với phụ nữ độc thân
- 4. Các nguyên tắc áp dụng
- 5. Quy định của pháp luật về sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- 5.1 Quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- 5.2 Chế độ thai sản
- 5.3 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ
1. Khái niệm về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Theo Khoản 21, Điều 3 Luật Hôn Nhân và gia đình năm 2014 (Luật HN và GĐ năm 2014), “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.
Nói cách khác, đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường, hóa chất, hậu quả chiến tranh,…đem lại hạnh phúc và hi vọng cho không ít các gia đình Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Hiện nay có hai phương pháp chính được áp dụng đó là: thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm.
2. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2.1. Thụ tinh nhân tạo
Ngày nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nhiều nhất xoay quanh lĩnh vực sức khỏe sinh sản. Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo được hiểu là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi. Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, thụ tinh nhân tạo hay còn gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn.
2.2. Thụ tinh trong ống nghiệm
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì: “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”.
Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ. Đây là phương pháp điều trị hiếm muộn trong các trường hợp: Tắc nghẽn ống dẫn trứng; lạc nội mạc tử cung; tinh trùng ít, yếu, dị dạng; xin trứng;… Đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao. Ngày nay, với công nghệ tiên tiến, tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghiệm đã được nâng lên đáng kể so với trước đây.
Những trường hợp được áp dụng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì “Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”.
Như vậy, pháp luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong hai trường hợp: (i) Đối với cặp vợ chồng vô sinh (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) và đối với người phụ nữ độc thân (khoản 6 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP).
3. Các trường hợp được áp dụng
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ghi nhận: “Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa”. Như vậy, pháp luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong hai trường hợp:
3.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Khái niệm “vô sinh” được hiểu là “tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai”. (Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP). Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ người đàn ông và cũng có thể xuất phát từ người phụ nữ. Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con, cũng có thể là thứ phát, tức là đã từng có con, nhưng sau đó mất khả năng này. Hiện nay, tỉ lệ vô sinh trên thế giới trung bình từ 6%-12%. Đây là một vấn đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà là chung cho toàn xã hội. Nghị định mới của Chính phủ về vấn đề Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời không chỉ mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý quan trọng cho giới chuyên môn và cho những người muốn điều trị vô sinh.
3.2. Đối với phụ nữ độc thân
Khoản 6, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật”. Tức là, tại thời điểm đó, người phụ nữ đang không có quan hệ hôn nhân với bất kỳ ai. Mặc dù không muốn bị ràng buộc bởi hôn nhân nhưng họ vẫn muốn có một đứa con để yêu thương, chăm sóc, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến người phụ nữ lựa chọn phương pháp này. Cuộc sống công nghiệp hiện đại cùng nhịp sống hối hả không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ độc thân lựa chọn biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thường nằm ở đối tượng phụ nữ thành đạt.
4. Các nguyên tắc áp dụng
Theo Điều 3, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP qui định về nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:
Thứ nhất, cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Thứ hai, vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.
Thứ ba, việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện.
Thứ tư, việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.
Thứ năm, việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
Nghị định mới ra đời thay thế Nghị định số 12/2003/NĐ-CP không chỉ ghi nhận thêm quyền mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà còn bổ sung thêm nguyên tắc bảo đảm an toàn bí mật đời tư, bí mật cá nhân và gia đình của tất cả các bên khi tham gia vào quan hệ mang thai hộ. Đây chính là điểm tiến bộ quan trọng của pháp luật Việt Nam.
5. Quy định của pháp luật về sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Lần đầu trong lịch sử lập pháp, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và cho phép mang thai hộ. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã ghi nhận quyền được sinh con bằng kỹ thuật sinh sản, được nhờ người khác mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đây là một bước tiến lớn trong công tác lập pháp của nước ta, là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề này.
5.1 Quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Trước đây, Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP “nghiêm cấm mang thai hộ” dưới mọi hình thức thì đến Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã thay đổi bằng quy định “nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại”.
Như vậy, sau 10 năm pháp luật hôn nhân và gia đình đã có nhìn nhận mới liên quan đến vấn đề mang thai hộ. Bên cạnh việc pháp luật đưa ra hai khái niệm về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn đã có những quy định cụ thể về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
5.2 Chế độ thai sản
Pháp luật về bảo hiểm cũng có quy định đối với trường hợp mang thai hộ, cụ thể:
- Chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ (Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP).
- Chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ (Điều 4 Nghị định 115/2015/NĐ-CP).
- Thủ tục hưởng chế độ thai sản (Điều 5 Nghị định 115/2015/NĐ-CP).
5.3 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ
Thứ nhất: Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Trong những trường hợp cụ thể, việc xác định cha, mẹ, con được tiến hành như sau:
- Trường hợp con sinh ra trong giá thú:
Con trong giá thú là con mà cha mẹ là vợ chồng trước pháp luật. Như vậy đứa con sinh ra bằng phương pháp khoa học trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác định là con trong giá thú. Căn cứ vào khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 con được sinh ra theo phương pháp khoa học sẽ có cha là người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 88 về xác định cha, mẹ, con cho đứa con trong giá thú.
Thông thường khi nam nữ kết hôn với nhau, trở thành vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân mà người vợ sinh con thì con đó mặc nhiên được coi là con chung của hai vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán được quy định tại điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”.
- Trong trường hợp đặc biệt, con được sinh ra theo phương pháp khoa học nhưng vẫn trong thời kỳ hôn nhân thì căn cứ vào Điều 88, đứa trẻ vẫn được xác định là “con chung” của vợ chồng tương tự như đứa con huyết thống.
- Trường hợp người vợ thụ tính trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh con khi hôn nhân kết thúc.
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì nếu người vợ có thai nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kỳ hôn nhân, nghĩa là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (ly hôn hoặc chồng chết), nếu trong hạn 300 ngày mà sinh con thì con đó vẫn được xác định là “con chung’ của hai vợ chồng.
Thứ hai: Đối với phụ nữ độc thân muốn sinh con
Khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”.
Như vậy, việc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con.
Tuy nhiên, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng nên trong trường hợp người mẹ độc thân mang thai đứa con bằng phương pháp sinh con khoa học nhưng sau đó kết hôn và sinh con trong thời kỳ hôn nhân thì đứa con đó vẫn được xác định là con chung của vợ chồng.
Thứ ba: Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Như vậy, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra.
Mang thai hộ được thực hiện đối với cặp vợ chồng hợp pháp, quá trình thụ thai phải được diễn ra trong thời kỳ hôn nhân. Việc tiến hành mang thai hộ diễn ra ngoài thời kỳ hôn nhân là trái với quy định của pháp luật. Đứa trẻ chỉ được coi là con chung của vợ chồng trong trường hợp đứa trẻ đó được người mang thai hộ thụ thai thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cụ thể là thụ tinh nhân tạo, trong thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.