với những cặp vợ chồng không thể sinh con bằng cách tự nhiên cũng như những những người phụ nữ muốn có con.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

2. Luật sư tư vấn:

3 Hệ quả pháp lý của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Quan hệ giữa người nhận noãn, nhận phôi, nhân tinh trùng với đứa trẻ

Thứ nhât, Quan hệ giữa cặp vợ chồng vô sinh  với đứa trẻ

Trên thực tế trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật sinh sản sẽ nảy sinh một vấn đề là : Cha, mẹ pháp lý không đồng nhất với cha, mẹ sinh học . Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tuân thủ theo quy định cuả pháp luật hôn nhân gia đình năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan.

  • Đứa trẻ sinh ra trong trường hợp nhận noãn, phôi, tinh trùng sẽ là con của cặp vợ chồng trong trường hợp:

  Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này”. Đối chiếu với quy định tại Điều 88 Luật HN và GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.

Như vậy, đối với cặp vợ, chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì căn cứ xác định cha, mẹ, con được xác định trên nguyên tắc suy đoán pháp lý, đó là căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh, hôn nhân chám dứt nhưng trong thời hạn 300 ngày đứa trẻ được sinh ra cũng sẽ là con của cặp vợ chồng. Pháp luật quy định thời hạn xác định cha, mẹ , con trong trường hợp này giúp xác nhận đứa trẻ là con của cặp vợ chồng trong thời kỹ hôn nhân hợp pháp đã sinh ra hoặc đang mang thai đều sẽ là con chung và cả cha và mẹ đều có trác nhiệm chăm sóc đứa trẻ. Khoảng thời gian 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân để xác định con chung là phù hợp: với chu trình sinh sản tự nhiên của con người , nhìn chung phù hợp với quyền và lợi ích của đứa trẻ, người vợ và người chồng. Đó là việc xác định theo quá trình sinh sản tự nhiên còn trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn một số khác biệt hơn:

Từ quy định này đã phát sinh vướng mắc, đó là, trong trường hợp đang tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết, đứa trẻ sinh ra đã quá 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ có được xác định là con chung của vợ, chồng không? Trong trường hợp này là có mong muốn của cả hai vợ chồng nhưng quá thời gian luật định, hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể. Theo người viết, tuy nguyên tắc quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014,thì đứa trẻ trong trường hợp này không là con chung của vợ, chồng nhưng tế đứa trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự mong muốn của người đã khuất. Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng lớn .

Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định đối với trường hợp đang trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng bị tuyên bố mất tích thì người vợ có được tiếp tục thực hiện và nếu thực hiện thì xác định cha, mẹ, con như thế nào?

Mặt khác, chỉ khi có sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh thì mới được áp dụng việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trên tình thần tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác. Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng

Cặp vợ chồng vô sinh trong trường hợp nhận noãn, tinh trùng, phôi này sẽ là cha, mẹ của đứa trẻ và không có quyền xác định lại cha, mẹ.

Đối với phụ nữ độc thân

          Khoản 2 Điều 93 quy định : “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.” 

  Việt Nam là một trong số ít những quốc gia cho phép phụ nữ độc thân được quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

  Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự tự nguyện và sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ độc thân đó. Theo quy định tại  khoản 2 Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”. Theo đó, người phụ nữ sống độc thân đương nhiên là mẹ của đứa trẻ. Pháp luật hiện hành ngoài việc cho phép người phụ nữ độc thân được nhận tinh trùng từ người khác còn cho phép họ được nhận phôi trong trường hơp họ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai. Việc quy định cho người phụ nữ đơn thân được phép nhận phôi thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật, bởi khi người phụ nữ độc thân khát khao được làm mẹ nhưng do không có noãn hay noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai, do vậy, dù có nhận tinh trùng của người khác thì họ cũng không thể thụ thai được nên lúc này họ có thể nhận phôi để được sinh con.

Người phụ nữ độc thân đương nhiên sẽ là mẹ đứa trẻ và không có quyền xác định lại

 Quan hệ giữa người cho tinh trùng, noãn, phôi với đứa trẻ

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra. Quy định này phù hợp với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (khoản 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP): Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận. Bởi  xuất phát từ việc chính cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân là người đem lại sự sống cho đứa trẻ và họ cũng là người mong muốn có đứa trẻ chứ không phải là người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi .

 Quy định trên cũng nhằm tránh những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con của các chủ thể liên quan, là cơ sở đảm bảo ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con, giúp cặp vợ chồng, người phụ nữ độc thân yên tâm nuôi dạy đứa trẻ trong điều kiện tốt nhất.

Đứa trẻ không phải là con của người cho tinh trùng, noãn, phôi nên người cho không có quyền xác định lại đứa trẻ là con của mình

Thứ hai, Quan hệ giữ người mang thai hộ với đứa trẻ

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là điểm đổi mới tiến bộ của pháp luật hôn nhân và gia đình. Pháp luật cho phép cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ. Việc này đã mở ra cơ hội được làm cha mẹ thực sự cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, theo quy định tại khoản  22 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”. Theo quy định tại  Điều 94, Luật HN&GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Đứa trẻ được coi là con chung của vợ chồng từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra. Khác với những trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác, sự kiện sinh đẻ không khiến người mẹ sinh ra đứa trẻ sinh ra nghiễm nhiên là mẹ ruột. Căn cứ để xác định cha, mẹ , con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dựa trên yếu tố huyết thống và thời kỳ hôn nhân của người mang thai hộ.

Theo đó, phôi mà người mang thai hộ mang thai hộ mang là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ- áp dụng với cặp vợ chồng vô sinh và  quá trình thụ thai phải được diễn ra vào thời kỳ hôn nhân. Đứa trẻ mà người được mang thai hộ sinh ra nhưng không có bất kỳ mối quan hệ huyết thống nào với nhau. Chính vì vậy đứa trẻ sinh ra là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Như vậy, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra.

  Quy định như vậy là hợp lý vì:

Thứ nhất, để đảm bảo đặc trưng của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là giúp đỡ những cặp vợ chồng vô sinh có con; còn người mang thai hộ chỉ nhằm mục đích giúp đỡ, mục đích nhân đạo;

Thứ hai, quy định trên giúp ổn định mối quan hệ cha-mẹ- con, tránh việc xảy ra tranh chấp.

Bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ không có quyền xác định lại con trong trường hợp pháp luật đã quy định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê