Mục lục bài viết
- 1. Nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của việc thiết lập quy trình đánh giá và đối phó rủi ro
- 1.1 Tìm hiểu môi trường hd
- 1.2 Đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu
- 1.3 Chạy theo lợi nhuận
- 1.4 Trưởng nhóm kiểm toán
- 1.5 Tìm hiểu KTNB
- 2. Đánh giá chung việc thực hiện đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
- 2.1 Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
- 2.2 Những hạn chế, tồn tại trong công tác đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
1. Nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của việc thiết lập quy trình đánh giá và đối phó rủi ro
Ngoài việc xem xét thực trạng của việc đánh giá và đối phó rủi ro, để tìm các giải pháp nâng cao chất lượng, người viết tiến hành đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của việc thực hiện quy trình đánh giá và đối phó rủi ro, trên cơ sở tổng hợp kết quả khảo sát cho 30 mẫu, phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phần mềm SPSS nhằm xác định nhân tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro và từ đó viết phương trình hồi quy để biểu diển ảnh hưởng của nhân tố đến tính hữu hiệu của quy trình này
1.1 Tìm hiểu môi trường hd
Dưới góc độ lý thuyết, các biến quan sát của nhân tố thứ nhất thuộc thành phần Tiếp
nhận khách hàng và thành phần tìm hiểu về môi trường hoạt động và thành phần tìm hiểu rủi ro kiểm soát. Ta có thể đặt tên cho nhân tố thứ nhất là “Tiếp nhận khách hàng, tìm hiểu môi trường hoạt động và rủi ro kiểm soát”
1.2 Đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu
Các biến quan sát của nhân tố thứ hai liên quan đến thành phần Tìm hiểu môi trường
hoạt động và thành phần Đối phó rủi ro. Ta có thể đặt tên cho nhân tố thứ hai là “Tìm hiểu môi trường hoạt động và đối phó rủi ro”
1.3 Chạy theo lợi nhuận
Các biến quan sát của nhân tố thứ ba liên quan đến ba thành phần Tiếp nhận khách
hàng, thành phần Tìm hiểu rủi ro kiểm soát và thành phần đối phó rủi ro. Ta có thể đặt tên cho nhân tố thứ ba là “Tiếp nhận khách hàng, tìm hiểu rủi ro kiểm soát và đối phó rủi ro”
1.4 Trưởng nhóm kiểm toán
Các biến quan sát của nhân tố thứ tư liên quan đến thành phần Tiếp nhận khách hàng
và thành phần Tìm hiểu môi trường hoạt động. Ta có thể đặt tên cho nhân tố thứ tư là “Tiếp nhận khách hàng và tìm hiểu môi trường hoạt động”
1.5 Tìm hiểu KTNB
Các biến quan sát của nhân tố thứ năm liên quan đến thành phần Tìm hiểu môi trường
kiểm soát. Ta có thể đặt tên cho nhân tố thứ năm là “Tìm hiểu môi trường kiểm soát”.
Bằng phương pháp hồi quy tuyến tính bội, ta xem xét trong các yếu tố từ F1 đến F5 yếu tố nào thực sự tác động đến chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro một cách trực tiếp.
Áp dụng phương pháp chọn từng bước (stepwise selection) là sự kết hợp của phương pháp đưa vào dần và loại trừ dần và là phương pháp được sử dụng thông thường nhất.
Sử dụng stepwsise để đưa các biến độc lập vào mô hình. Giá trị Tolerances và VIF ở bảng số 2 (bảng Coefficients) cho thấy không hiện diện hiện tượng đa cộng tuyến của các biến. Quy tắc là khi VIF vượt quá 10 là dấu hiệu của đa cộng tuyến.
2. Đánh giá chung việc thực hiện đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa tại Việt Nam
2.1 Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
Dựa trên việc đánh giá chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro được khảo sát. Nhìn chung, một số công ty kiểm toán Việt Nam đã vận dụng hướng dẫn của các Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam hiện hành vào đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC. Các chuẩn mực không phải được vận dụng một cách máy móc mà được KTV nghiên cứu, vận dụng một cách phù hợp với thực tiễn kiểm toán tại công ty khách hàng.
Ở giai đoạn chấp nhận hợp đồng kiểm toán, các công ty kiểm toán đã có những quy định cụ thể để đánh giá rủi ro có thể xảy ra khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán thông qua việc tìm hiểu các thông tin sơ bộ ban đầu như loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động của khách hàng, tình hình hoạt động hiện tại. Các nguồn thông tin mà các công ty kiểm toán thu thập để có sự hiểu biết về khách hàng đó là từ hồ sơ kiểm toán trong công ty, từ các phương tiện truyền thông. Việc phân chia trách nhiệm trong công việc tương đối rõ ràng, cụ thể. Ở đây, việc đánh giá rủi ro trước khi chấp nhận hợp đồng được thực hiện bởi các thành viên có trình độ chuyên môn và vị trí cao trong công ty kiểm toán như trưởng phòng kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán.
Sau khi chấp nhận hợp đồng, công tác đánh giá rủi ro kiểm toán ban đầu cũng được các công ty kiểm toán chú ý thực hiện. KTV phải tiếp tục tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình của doanh nghiệp như môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, các vấn đề liên quan đến ngành nghề, HTKSNB của khách hàng, từ đó xác định sơ bộ các rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát có liên quan. Việc đánh giá rủi ro này được thực hiện trên tổng thể BCTC lẫn trên từng số dư tài khoản, nghiệp vụ của BCTC. Các công ty kiểm toán cũng đã thực hiện theo yêu cầu của chuẩn mực trong việc tìm hiểu HTKSNB của khách hàng, như tìm hiểu về môi trường kiểm soát, về đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, các thủ tục kiểm soát, hoạt động giám sát của khách hàng. Việc đánh giá rủi ro kiểm soát giúp cho KTV nhận biết được các sai phạm có khả năng xảy ra trên BCTC, từ đó xem xét lại các biện pháp mà khách hàng đã sử dụng để ngăn ngừa các rủi ro đó, cũng như đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp.
Các công ty kiểm toán cũng đã thực hiện các biện pháp trong việc ứng phó các rủi ro đã được đánh giá trước đó. Trên cơ sở của việc đánh giá rủi ro, KTV thiết lập mức trọng yếu cho phù hợp với tình hình của từng khách hàng, thiết kế các thử nghiệm kiểm toán phù hợp. Đối với rủi ro trên toàn bộ BCTC, KTV và công ty kiểm toán yêu cầu cần phải tăng cường giám sát các công việc kiểm toán được thực hiện, đồng thời duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp, bổ nhiệm nhóm kiểm toán có kinh nghiệm phù hợp hoặc sử dụng chuyên gia. Đối với các rủi ro trên từng cơ sở dẫn liệu, KTV tiến hành điều chỉnh nội dung, lịch trình, phạm vi của các thử nghiệm cơ bản.
2.2 Những hạn chế, tồn tại trong công tác đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
của các công ty nhỏ và vừa
Bên cạnh những kết quả đạt được. công tác kiểm toán BCTC nói chung và đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa của Việt Nam nói riêng còn tồn tại một số vấn đề sau:
Về việc sử dụng kết quả đánh giá rủi ro trong khâu chấp nhận hợp đồng: nhìn chung công tác đánh giá rủi ro trước khi công ty kiểm toán chấp nhận hợp đồng là phù hợp và mang tính thận trọng cao, dựa vào kinh nghiệm xét đoán của KTV và những thành viên chủ chốt trong công ty, các công ty kiểm toán đã ước tính được mức độ rùi ro cần thiết khi chấp nhận khách hàng. Tuy nhiên, kết quả đánh giá trong giai đoạn này được chủ yếu các công ty kiểm toán sử dụng để xác định mức phí kiểm toán, rất ít các trường hợp các công ty kiểm toán từ chối chấp nhận hợp đồng vì rủi ro cao.
Về tìm hiểu môi trường hoạt động, các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp được kiểm toán: Khá nhiều công ty KTĐL nhỏ và vừa chưa thực hiện đầy đủ việc tìm hiểu các yếu tố về môi trường kinh doanh chung, môi trường pháp lý cũng như đặc điểm kinh doanh của khách hàng.
Về việc sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng: Thực trạng đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán thể hiện hầu hết các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam vẫn sử dụng cách đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán theo cách tiếp cận truyền thống dựa trên các đánh giá và kết luận về các khoản mục cụ thể trên BCTC. Trong khi đó, Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế đã ban hành và hầu hết các tập đoàn kiểm toán lớn trên thế giới đã đổi mới cách tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng khi đánh giá về rủi ro kiểm toán.
Về vấn đề đánh giá rủi ro kiểm soát: Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát và các nhược điểm của HTKSNB, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của từng loại nghiệp vụ kinh tế. Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hoặc trung bình thì KTV cần thiết kế các thử nghiệm kiểm soát để khẳng định lại đánh giá ban đầu về HTKSNB và giảm các thử nghiệm cơ bản cần phải tiến hành. Việc làm này sẽ giúp giảm được chi phí kiểm toán và tăng hiệu quả cho công tác kiểm toán. Tuy nhiên, trong thực tế kiểm toán, các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam mặc dù có tìm hiểu về HTKSNB nhưng thường không tin tưởng và HTKSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức tối đa nên đã bỏ qua các thử nghiệm kiểm soát mà chủ yếu chỉ thực hiện các thử nghiệm cơ bản.
Ngoài ra, khi tìm hiểu về HTKSNB, các công ty chưa tìm hiểu đầy đủ, chi tiết tất cả các nhân tố về KSNB để có thể đánh giá đúng đắn về tính hữu hiệu của HTKSNB, cũng như chưa tìm hiểu, tham khảo các công việc được được thực hiện bởi Kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp khách hàng.
Về xác định biện pháp đối phó rủi ro đối với các sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTC: các công ty được khảo sát chưa thực hiện các biện pháp một cách có hiệu quả, mức độ đối phó với rủi ro này còn thấp, chủ yếu thay đổi về thủ tục kiểm toán mà chưa lưu ý đến các hướng giải quyết khác như bổ nhiệm nhóm kiểm toán có kinh nghiệm phù hợp hay sử dụng chuyên gia, chưa tăng cường giám sát,…
Về việc điều chỉnh các thử nghiệm kiểm toán tiếp theo: Khi đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu ở từng cơ sở dẫn liệu là cao, KTV đã tiến hành điều chỉnh các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình kiểm toán, các công ty thường chỉ chú ý đến phạm vi của thủ tục trong khi chuẩn mực chỉ ra rằng nếu chỉ thực hiện thử nghiệm cơ bản thì không thể cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp ở cấp độ cơ sở dẫn liệu.
Về nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro: Các công ty kiểm toán gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự và kiểm soát ảnh hưởng của việc đánh giá rủi ro đến thử nghiệm cơ bản do KTV chưa có nhiều kinh nghiệm dẫn đến việc hạn chế áp dụng thủ tục đánh giá và đối phó rủi ro và việc áp dụng chưa mang đến chất lượng một cách hữu hiệu và hiệu quả.
Về kết quả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của đánh giá và đối phó rủi ro: Có 5 nhân tố được rút ra từ các biến quan sát, 5 nhân tố này giải thích được 85.759% biến thiên của các biến quan sát, trong 5 nhân tố này nhân tố thứ nhất có ảnh hưởng lớn nhất với 24.106% và ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng của quy trình đánh giá và ứng phó rủi ro. Các biến có mức ý nghĩa lớn nhất đối với từng nhân tố:
Nhân tố thứ nhất: Tìm hiểu môi trường hd
Nhân tố thứ hai: Đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu
Nhân tố thứ ba: Chạy theo lợi nhuận
Nhân tố thứ tư: Trưởng nhóm kiểm toán
Nhân tố thứ năm: Tìm hiều KTNB
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê
.png)