1.  Nội dung cơ bản của Luật nhân đạo quốc tế

1.1 Những quy định về hoạt động trong chiến tranh

- Các hoạt động khởi chiến: 

  • Vấn đề tuyên bố chiến tranh có ý nghĩa thông báo tình trạng chiến tranh trong các mối quan hệ giữa các bên liên quan chứ không thể làm hợp pháp hóa một cuộc chiến tranh, nhất là việc tiến hành chiến tranh xâm lược quốc gia độc lập, có chủ quyền khác
  • Ngoài ra ngay sau khi tuyên chiến, cần thông báo về tình trạng chiến tranh cho các quốc gia trung lập
  • Kể từ thời điểm tuyên bố chiến tranh, quan hệ giữa các bên liên quan đối địch đã có những tahy đổi to lớn, kéo theo các hậu quả pháp lý ngại giao. Công ước Giơnevơ năm 1949 sẽ được áp dụng cho các thành viên hợp pháp xung đột vũ trang

- Chiến trường: Chiến trường là vùng mà các chiến quốc có thể tiến hành các hoạt động quân sự trong giới hạn không gian nhất định

  • Chiến trường gồm có các phần lãnh thổ trên đất liền, hải đảo, không trung, và các vùng trời biển cả, nơi mà lực lượng vũ trang có thể tiến hành các hoạt động quân sự
  • Các chiến quốc không được biến các lãnh thổ của quốc gia trung lập thành chiến trường “vùng đặc biêt” theo luật quốc tế nhân đạo như khu vực cứu thương, bệnh viện, trạm xá. Một số vùng khác trên cơ sở các điều ước quốc tế như kênh đào quốc tế

1.2 Các thành viên hợp pháp của việc xung đột vũ trang

- Phân loại các thành viên hợp pháp của xung đột vũ trang bao gồm:

  • Chiến đấu viên

+ Quân nhân của lực lượng vũ trang (hải quân, lục quân, không quân )

+ Các đội tình nguyện, du kích, tự vệ, phong trào kháng chiến

  • Không phải chiến đấu viên: Nhân viên y tế, cha đạo đi theo các chiến đấu viên

- Phân loại trên biển bao gồm: 

  • Chiến đấu viên: thủy thủ đoàn trên các loại tàu chiến, phi hành đoàn trên các phương tiện bay, thủy thủ đoàn trên các tàu chiến hỗ trợ và các tàu buôn chuyển thành tàu chiến
  • Không phải là chiến đấu viên: thuyền viên của các tàu chiến quân y nếu tàu chỉ được thiết kế cho việc cấp cứu người bị thương, bị bệnh, người bị đắm tàu và các thuyền viên của các tàu chiến quân y

- Phân loại trên không bao gồm:

  • Chiến đấu viên: các phi hành đoàn, các loại phương tiện bay tuộc lực lượng không quân của quốc gia tham chiến và có dấu hiệu nhận biết riêng biệt của quốc gia đó, kể cả các phi hành đoàn thuộc máy bay dân dụng đã chuyển đổi thành máy bay quân sự
  • Không phải chiến đấu viên: phi hành đoàn máy bay cứu họ, quân y, máy bay của hội chữ thập đỏ
  • Cần chú ý một số trường hợp đặc biệt là thành viên hợp pháp được quy định trong luật quốc teesnhaan đạo như trinh sát viên quân sự và tình nguyện viên

1.3 Các quy định về kết thúc chiến sự và kết thúc tình hình chiến tranh

- Phương thức định chiến và đầu hàng: 

  • Định chiến có thể là định chiến toàn boojhoawcj cục bộ chiến sự - có thể giúp lập lại hòa bình
  • Đầu hàng là một trong những hình thức của sự kết thuc chiến sự. Đầu hàng vô điều kiện là dạng của đầu hàng. Khác với đình chiến bên đầu hàng sẽ mất hết quyền bình đẳng với bên chiến thắng cho dù quyền đó chỉ là hình thức
  • Cũng có trường hợp 2 bên ký hòa ước => chưa hản đã hết chiến tranh

2. Hệ quả pháp lý của việc xảy ra chiến tranh giữa các quốc gia hữu quan

Các hậu quả pháp lý phát sinh:

- Quan hệ hòa bình giữa các quốc gia tham chiến sẽ chấm dứt, cụ thể là quan hệ ngoại giao, lãnh sự, thương mại và các quan hệ khác sẽ được thay thế bằng quan hệ thù địch ( chiến tranh). Các cơ quan đại diện của quốc gia bị đóng cửa, thành viên của chúng phải rời khỏi lãnh thổ quốc gia thù địch

-  Tài sản của quốc gia đối phương có thể bị tịch thu, tịch biên ( trừ tài sản của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự). Về nguyên tắc tài sản của công dân nước thù địch không bị tịch thu

- Nghiêm cấm việc ký kết hợp đồng các loại với công dân và pháp nhân của quốc gia đối phương. Tàu thương mại treo cờ của quốc gia này nếu hiện diện tại lãnh thổ của quốc gia tham chiến khác sẽ bị cầm giữ và chỉ được trao trả sau khi chiến tranh chấm dứt. Còn tàu chiến ( tàu nhà nước ) sẽ bị tịch thu với tính chất là tài sản của quốc gia thù địch

- Các điều ước quốc tế giữa các quốc gia tham chiến sẽ chấm dứt với mức độ hiệu lực khác nhau, phụ thuộc vào loại hình và tính chất của điều ước quốc tế. Đồng thời các điều ước quốc tế về chiến tranh đặc biệt là công ước La Haye và Giơnevơ sẽ bắt đầu có hiệu lực điều chỉnh quan hệ chiến tranh giữa các bên tham chiến

3. Luật quốc tế về bảo vệ nạn nhân chiến tranh

- Theo khoa học luật quốc tế nạn nhân chiến tranh là những cá thể con người rơi vào tình trạng đặc biệt hiểm nghèo, mà trong hoàn cảnh đó, họ rất dẽ bị xâm hại và tổn thương, đồng thời họ hoàn toàn không có khả năng tự bảo vệ mình. Những đối tượng này gồm

  • Tù binh của lực lượng vũ trang đối phương
  • Thương binh, bệnh binh và những người bị đắm tàu
  • Dân thường bao gồm cả dân thường trong khu vực chiếm đóng

- Theo các điều ước quốc tế đã nêu trong mọi hoàn cảnh các nạn nhân chiến tranh phải được bảo vệ và đối xử nhân đạo mà không có bất cứ xự phân biệt đối xử nào vì lý do chủng tộc, màu da, tôn giáo hoặc chính kiến, nguồn gốc xuất xứ hoặc bất kỳ tiêu chuẩn tương tự nào.

- Nghiêm cấm việc xâm hại bất kỳ đối với cuộc sống và sự bất khả xâm phạm về thân thể họ, cụ thể là giết hại, đối xử dã man phi nhân tính, tra tấn, hành hạ, xâm hại tới phẩm giá con người, xét xử và phán quyết trừng phạt mà không thông qua tòa án, trừng phạt các hành vi xâm phạm chưa hoàn thành trong đó có trừng phạt cụ thể

- Trẻ em phải được bảo hộ đặc biệt, còn đối với phụ nữ phải áp dụng quy chế đối xử với sự lưu tâm đặc biệt. Sự bảo hộ được ghi nhận trong các điều ước quốc tế là bắt buộc, tuyệt đối không ai có thể bị ép buộc từ chối hoặc tự nguyện chối bỏ sự bảo hộ quốc tế này

- Những nạn nhân chiến tranh luôn được tạo điều kiên tốt nhất đểhọ có khả năng tiếp cận và nhận sự bảo hộ quốc tế của các chủ thể có liên quan, như quốc gia bỏa hộ, hoặc hội chữ thập đỏ quốc tế hay bất kỳ tổ chức quốc tế nhân đạo nào khác

4. Mục đích, nguồn và nội dung Luật nhân đạo quốc tế

4.1 Nguồn của luật nhân đạo quốc tế

- Tập quán quốc tế

Từ góc nhìn lịch sử về quá trình hình thành và phát triển của luật nhân đạo quốc tế ta thấy đã có sự thay đổi quan trọng về nguồn luật của ngành luật này. Trước kia tập quán quốc tế là nguồn chủ đạo, nói cách khác luật quốc tế về chiến tranh là luật tập quán quốc tế. Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ XIX một loạt các điều ước quốc tế về chiến tranh đã được hình thành, các tập quán quốc tế về xung đột vũ trang được pháp điển háo và ghi nhận trong các điều ước này. Tập quán quốc tế về chiến tranh vẫn còn tồn tại, vẫn có hiệu lực điều chỉnh các hành vi ứng xử của các quốc gia tham chiến, đặc biệt đối với các quốc gia không bị ràng buộc với các điều ước quốc tế về chiến tranh

- Điều ước quốc tế

Được coi là nguồn chủ yếu và quan trọng nhất của luật quốc tế, điều này được thể hiện rõ trong tất cả các ngành luật, kể cả ngành luật cổ điển cũng như ngành luật mới hình thành trong luật quốc tế. Một số điều ước quốc tế là nguồn quan trọng bao gồm:

  • Tuyên bố Pari năm 1856 điều chỉnh về quyền trong hải chiến, như quyền chiến lợi phẩm, hiệu quả phong tỏa bờ biển và nghiêm
  • Công ước Giơnevơ năm 1864 về cải thiện số phận của thương bệnh binh trong các lực lượng vũ trang trên chiến trường
  • Nghị định thư Giơnevơ năm 1925 về nghiêm cấm áp dụng hơi thở ngạt, hơi độc hoặc các loại khí tương tự
  • Công ước La Haye năm 1907 về luật lệ và tập quán quốc tế chiến tranh trên bộ trong giai đoạn khởi chiến
  • Hiệp định Nione năm 1937 về các biện pháp chống hành động cướp biển của tàu ngầm
  • Bốn công ước Giơnevơ năm 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh và hai nghị định thư bổ sung năm 1977 cho bốn công ước trên
  • Công ước La Haye năm 1954 về bảo vệ các giá trị văn hóa
  • Công ước năm 1972 về cấm sản xuất, tàng trữ các loại vũ khí chất độc, vi trùng
  • Công ước năm 1993 về cấm nghiên cứu, sản xất, tàng trữ và áp dụng các vũ khí hóa học
  • Công ước năm 1997 về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất, chuyển giao các loại mìn sát thương

-  Ngoài các điều ước quốc tế nêu trên còn có nhiều điều ước quốc tế điều chỉnh các vấn đề khác nhau phát sinh trong quá trình hình thành phát triển và thay đổi quan hệ pháp lý quốc tế về chiến tranh

4.2 Nội dung của luật nhân đạo quốc tế

- Từ góc độ nghiên cứu khoa học luật quốc tế, luật nhân đạo quốc tế được coi là ngành luật độc laapjnawmf trong hệ thống luật quốc tế, bao gồm tổng thể các quy phạm luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế tham chiến cũng như các chủ thể có liên quan tới cuộc chiến trong các vân sđề khới chiên svaf giải quyết hậu quả chiến tranh và xung đột vũ trang, vấn đề sử dụng các phương tiện và biện pháp tiến hành chiến tranh, quy chế trung lập trong cuộc chiến, cũng như vấn đề bảo hộ nạn nhân chiến tranh và trách nhiệm quốc tế của các chủ thể hữu quan có hành vi vi phạm luật nhân đạo quốc tế

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luật nhân đạo quốc tế được khẳng định có phạm vi áp dụng ngày càng mở rộng, cụ thể bao gồm hai loại hình xung đột vũ trang sau đây:

  • Xung đột vũ trang có tính chất quốc tế: Là xung đột quân sự giữa các quốc gia, giữa các dân tộc chiến đấu chống lại ách thống trị của các nước thực dân đế quốc và xâm lực ngoại bang, cũng như chống lại chế độ phân biệt chủng tộc vì quyền dân tộc tự quyết mình đã được ghi nhận trong hiến chương liên hợp quốc và tuyên ngôn về các nguyên tắc của luật quốc tế năm 1970
  • Xung đột vũ trang không có tính chất quốc tế thường là xung đột quân sự xảy ra giữa lực lượng quân đội chính phủ và các nhóm quân sự vũ trang chống chính phủ. Trên thực tế xung đột vũ trang không có tính chất quốc tế thường xuất hiện trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)