- 1. Các nguyên tắc
- 2. Các quyền áp dụng cho mọi người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ
- 3. Các quyền khác áp dụng riêng cho người lao động di trú có giấy tờ hợp pháp và các thành viên gia đình họ
- 4. Các tiêu chuẩn của ILO về bảo vệ quyền của người lao động di trú
- 5. Công ước số 97 và công ước số 143 của ILO
1. Các nguyên tắc
ICRMW được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc chỉ đạo, đó là: Không phân biệt đối xử (Điều 1): Nguyên tắc này có nghĩa là tất cả các quyền được xác lập trong công ước phải được áp dụng một cách bình đẳng cho tất cả mọi người lao động di trú; không được tạo ra bất kỳ sự áp dụng hay đối xử khác biệt nào dựa trên bất kỳ yếu tố nào như về dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, độ tuổi, địa vị xã hội, nghề nghiệp, giới tính, tôn giáo, tín ngưỡng, quan điểm xã hội.... Đối xử quốc gia (national treatment) (Điều 25): Nguyên tắc này có nghĩa là các quốc gia phải bảo đảm cho người lao động di trú đang làm việc ở nước mình các quyền như người lao động nước mình đang được hưởng. Theo quy định ở Điều 25, những chế độ áp dụng với người lao động di trú phải “không được kém thuận lợi hơn” so với người lao động là công dân của quốc gia tiếp nhận lao động, cụ thể trong các vấn đề như thù lao, điều kiện làm việc, các tiêu chuẩn tuyển dụng... Các quyền được áp dụng trong suốt quá trình di trú lao động (Điều 1): Nguyên tắc này có nghĩa là các quốc gia phải bảo đảm quyền của người lao động di trú trong mọi giai đoạn của tiến trình di trú lao động, bao gồm giai đoạn chuẩn bị, trên đường đi đến, khi làm việc ở nước tiếp nhận và khi trở về nước gốc.
2. Các quyền áp dụng cho mọi người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ
Phù hợp với thực tiễn đa dạng về nguồn gốc của người lao động di trú cũng như thông lệ pháp luật của các quốc gia, ICRMW đề cập vấn đề quyền của người lao động di trú theo hai hình thức: (i) các quyền con người cơ bản mà tất cả mọi người lao động di trú, bất kể có giấy tờ hợp pháp hay không có giấy tờ hợp pháp1 và các thành viên gia đình họ đều phải được bảo đảm, và (ii) các quyền bổ sung áp dụng với những người lao động di trú hợp pháp và các thành viên gia đình họ. Các quyền con người áp dụng chung cho mọi người lao động di trú được đề cập trong Phần III (từ Điều 8 đến 32) của Công ước, bao gồm: Quyền sống (Điều 9). Quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật(Điều 24). Quyền không bị tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (Điều 10). Quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch, bị lao động cưỡng bức hay bắt buộc (Điều 11). Quyền được bảo vệ sự riêng tư (Điều 14). Quyền sở hữu tài sản (Điều 15). Quyền tự do chính kiến, tín ngưỡng, nhận thức và tôn giáo (Điều 12). Quyền tự do ngôn luận (Điều 13). Quyền tự do rời khỏi hoặc trở về bất kỳ quốc gia nào, kể cả nước xuất xứ, vào bất kỳ thời điểm nào (Điều 8). Quyền được nhận sự chăm sóc y tế khẩn cấp cần thiết trên cơ sở đối xử bình đẳng như các công dân của quốc gia liên quan (Điều 28). Quyền có họ tên, được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em các gia đình lao động di trú (Điều 26). Quyền của trẻ em các gia đình lao động di trú được tiếp cận giáo dục trên cơ sở đối xử bình đẳng như các công dân của quốc gia mà cha mẹ đang làm việc ( Điều 30). Quyền được tôn trọng và duy trì bản sắc văn hoá ( Điều 26). Quyền mang theo số tiền kiếm được và tiết kiệm khi hồi hương (Điều 26). Quyền không bị trục xuất tập thể ( Điều 22). Quyền được nhận sự hỗ trợ, bảo vệ của một cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia gốc, hoặc của quốc gia đại diện cho lợi ích của quốc gia gốc khi các quyền được thừa nhận trong Công ước này bị vi phạm ( Điều 23). Quyền tự do và an toàn cá nhân ( Điều 16, 21), bao gồm sự bảo vệ người lao động cư trú và các thành viên trong gia đình họ khỏi bị tùy tiện tịch thu hoặc hủy các giấy tờ tùy thân, giấy nhập cảnh, lưu trú, cư trú, hành nghề hoặc giấy phép lao động. Các quyền trong tố tụng hình sự ( Điều 17, 18, 19), bao gồm quyền được đối xử nhân đạo, được xét xử một cách công bằng và được áp dụng những tiêu chuẩn tư pháp của một xã hội văn minh như không bị áp dụng hồi tố, không bị bỏ tù vì không hoàn thành một nghĩa vụ hợp đồng, không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận tội, có quyền bào chữa và được nhận các trợ giúp pháp lý cần thiết... Quyền được đối xử bình đẳng như các công dân của quốc gia tiếp nhận lao động liên quan đến những vấn đề như trả thù lao, điều kiện làm việc, tuyển dụng, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động, chấm dứt quan hệ lao động, độ tuổi lao động tối thiểu... ( Điều 25). Quyền được tham gia công đoàn và các hiệp hội khác được thành lập theo pháp luật ( Điều 26). Quyền hưởng an sinh xã hội tương tự như mức độ dành cho những công dân sở tại nếu đáp ứng những yêu cầu trong pháp luật của nước nhận lao động và trong các điều ước song phương, đa phương có liên quan ( Điều 27).
3. Các quyền khác áp dụng riêng cho người lao động di trú có giấy tờ hợp pháp và các thành viên gia đình họ
Ngoài những quyền áp dụng chung, những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ mà có giấy tờ hợp pháp còn được hưởng các quyền khác ghi nhận trong Phần IV của Công ước (từ Điều 36 đến 56), bao gồm: Quyền được thông báo đầy đủ về mọi điều kiện liên quan đến việc cư trú và các công việc mà họ sẽ phải làm ( Điều 37). Quyền được vắng mặt tạm thời mà không ảnh hưởng đến việc được phép cư trú hoặc lao động ( Điều 38). Quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ của quốc gia nơi có việc làm ( Điều 39). Quyền lập hội và tham gia các nghiệp đoàn tại quốc gia nơi có việc làm ( Điều 40). Quyền tham gia vào các vấn đề công cộng, bầu cử và được bầu trong các cuộc bầu cử tại quốc gia gốc ( Điều 41). Quyền được bảo vệ và hỗ trợ để có cuộc sống gia đình hợp nhất (Điều 44). Quyền được chuyển thu nhập và tiết kiệm để chu cấp cho gia đình từ quốc gia nơi có việc làm đến quốc gia gốc hoặc đến bất cứ một quốc gia nào khác ( Điều 47). Quyền được đối xử bình đẳng như công dân sở tại trong các vấn đề về thuế ( Điều 48). Quyền tự do lựa chọn công việc có hưởng lương ( Điều 52). Quyền được đối xử bình đẳng như với công dân của nước sở tại trong các vấn đề về lao động, việc làm ( Điều 54, 55). Quyền không bị trục xuất một cách tuỳ tiện ( Điều 56). Quyền được hỗ trợ tiếp cận với các thủ tục hay thể chế nhằm thực hiện những nhu cầu, nguyện vọng và các nghĩa vụ đặc biệt của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ ở cả quốc gia gốc và quốc gia nơi có việc làm ( Điều 42). Quyền được đối xử bình đẳng như công dân của quốc gia nơi có việc làm liên quan đến việc tiếp cận các tổ chức và dịch vụ giáo dục, các dịch vụ hướng nghiệp và việc làm, các cơ sở và tổ chức đào tạo và tái đào tạo nghề, nhà ở, các dịch vụ xã hội và y tế, các hợp tác xã và doanh nghiệp tự quản, đời sống văn hóa (Điều 43). Quyền bình đẳng của các thành viên trong gia đình của người lao động di trú với người dân bản địa trong các vấn đề: (i) Tiếp cận với các tổ chức và dịch vụ giáo dục; (ii) Tiếp cận với các tổ chức và dịch vụ hướng nghiệp và đào tạo nghề; (iii) Tiếp cận với các dịch vụ y tế và xã hội; (iv) Tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa (Điều 45). Quyền được miễn các loại thuế và phí xuất nhập khẩu đối với các thiết bị, đồ dùng gia đình và cá nhân, cũng như các dụng cụ và thiết bị cần thiết để làm một công việc có hưởng lương trong các trường hợp (Điều 46). Quyền được cấp giấy phép cư trú trong khoảng thời gian ít nhất bằng với thời hạn được phép làm công việc có hưởng lương (Điều 49). Theo nguyên tắc chung của luật nhân quyền quốc tế, một số quyền và tự do kể trên, ví dụ như: quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ của quốc gia nơi có việc làm, quyền lập hội và các nghiệp đoàn,v.v.. có thể phải chịu những hạn chế do pháp luật quy định nếu cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hay đạo đức cộng đồng, hay các quyền và tự do của người khác. Theo Điều 33 Công ước, tùy từng trường hợp cụ thể, người lao động di trú và các thành viên gia đình họ phải được quốc gia xuất xứ, quốc gia nơi có việc làm và quốc gia quá cảnh thông báo về: (a) Các quyền họ có theo quy định của Công ước này; (b) Các điều kiện về việc chấp nhận họ, các quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật và thực tiễn của quốc gia liên quan và những vấn đề khác giúp họ tuân thủ các thủ tục hành chính hay các thủ tục khác tại quốc gia đó. Điều này cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp thích hợp để cung cấp những thông tin nói trên một cách miễn phí cho người lao động di trú và các thành viên gia đình họ và trong chừng mực có thể, bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu.
4. Các tiêu chuẩn của ILO về bảo vệ quyền của người lao động di trú
Trong hệ thống các văn kiện pháp lý do ILO thông qua từ trước đến nay có khá nhiều văn kiện đề cập việc bảo vệ người lao động di trú, tuy nhiên, có hai công ước quan trọng nhất đóng vai trò nền tảng, đó là Công ước số 97 về lao động di trú vì việc làm (sửa đổi năm 1949) và Công ước số 143 về người lao động di trú trong hoàn cảnh bị lạm dụng, và về việc thúc đẩy cơ hội và sự đối xử bình đẳng với người lao động di trú (các quy định bổ sung). Đây cũng là hai trong số tám công ước cơ bản của ILO1. Sở dĩ hai công ước kể trên được coi là những điều ước nền tảng của ILO về vấn đề lao động di trú bởi chúng đề cập tất cả các vấn đề phát sinh trong toàn bộ quá trình di trú lao động, kể từ khi người lao động ở nước gốc, trong quá trình làm việc ở nước nhận cho đến khi trở về. Tuy nhiên, tương tự như ICRMW, tầm quan trọng đặc biệt của các công ước này của ILO thể hiện ở chỗ: Tất cả mọi người lao động di trú đều được bảo vệ bởi các công ước này mà không phân biệt giữa các dạng người lao động di trú cũng như không dựa trên nguyên tắc có đi có lại giữa các quốc gia. Thêm vào đó, các công ước vận động cho việc xây dựng các hợp đồng lao động mẫu ký giữa người lao động di trú và những chủ sử dụng lao động như là một công cụ pháp lý hiệu quả để bảo vệ các quyền của người lao động di trú. Bên cạnh hai công ước kể trên, còn cần kể đến Khuôn khổ đa chiều về di trú lao động của ILO. Mặc dù đây là một văn kiện không có tính ràng buộc pháp lý nhưng có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ các quyền của người lao động di trú, bởi lẽ, nó chứa đựng những nguyên tắc hướng dẫn hành động dựa trên quyền (right-based approach) trong đối xử với người lao động di trú mà đã được các quốc gia thành viên của ILO nhất trí thông qua.
5. Công ước số 97 và công ước số 143 của ILO
Công ước này được ILO thông qua tại kỳ họp toàn thể lần thứ 30, ngày 8-6-1949, có hiệu lực từ 22-01-1952. Đây không phải là điều ước quốc tế đầu tiên của ILO về vấn đề này, vì nó sửa đổi Công ước về Di trú vì việc làm năm 1939 (được ILO thông qua tại kỳ họp thứ 25 ngày 8-6-1939). Về mặt nội dung, Công ước được chia thành hai phần chính. Phần I đề cập việc hỗ trợ và bảo vệ người lao động di trú, Phần II đề cập việc đối xử bình đẳng với người lao động di trú. Theo Phần I, các quốc gia thành viên có các nghĩa vụ: Cung cấp thông tin cho Văn phòng Lao động quốc tế, các nước thành viên khác và cho người lao động di trú ( Điều 1 và 2). Những thông tin này liên quan đến: (a) Những chính sách, pháp luật và quy định của quốc gia về các vấn đề di trú và nhập cư; (b) Các quy định đặc biệt việc di trú vì việc làm, các điều kiện làm việc cũng như nghề nghiệp của những người di trú vì việc làm và (c) Những thỏa thuận chung và thỏa thuận đặc biệt về các vấn đề mà các nước thành viên đã thông qua. Hỗ trợ việc đi lại và tiếp nhận người lao động di trú ( Điều 4). Duy trì và cung cấp những dịch vụ thích đáng và miễn phí để hỗ trợ những người di trú vì việc làm ( Điều 2), trong đó bao gồm: dịch vụ y tế và điều kiện sinh hoạt vệ sinh cả khi đi và khi đến, cả với người lao động di trú và với nh ững thành viên trong gia đình họ đi kèm ( Điều 4), dịch vụ việc làm ( Điều 7). Hợp tác với nhau để chống sự tuyên truyền lệch lạc về các vấn đề di trú và nhập cư ( Điều 3). Theo Phần II, các quốc gia thành viên có những nghĩa vụ: Áp dụng chế độ đối xử quốc gia với người lao động di trú (tức sự đối xử ở mức không kém hơn sự đối xử với công dân của nước mình) trong các vấn đề về hành chính, tiền công, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, tuổi lao động tối thiểu và về các khía cạnh khác trong quan hệ lao động, kể cả việc gia nhập các công đoàn và tham gia xây dựng, ký kết các thỏa ước tập thể, hay trong các vấn đề về nơi ở, an sinh xã hội, thuế và thủ tục tố tụng... ( Điều 6) Cho phép những người di trú vì việc làm được chuyển thu nhập và tiền tiết kiệm của họ ra nước ngoài ( Điều 8).