1. Khái niệm
Cấp dưỡng là gì? Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình nêu rõ
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.
Theo quy định này, việc cấp dưỡng được đặt ra khi có các điều kiện sau đây:
- Giữa những người có quan hệ hôn nhân (vợ, chồng), quan hệ huyết thống (cha mẹ và con, anh chị em ruột, ông bà nội ngoại với cháu ruột...), quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi với con nuôi).
- Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người được cấp dưỡng là người gặp khó khăn, túng thiếu.
- Người được cấp dưỡng không sống cùng người cấp dưỡng.
- Người cấp dưỡng đóng góp tiền/tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu.
Đặc biệt, đây là nghĩa vụ không thể thay thế bằng các nghĩa vụ khác cũng như người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể chuyển giao nghĩa vụ này cho người khác
Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cụ thể:
Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Nghĩa vụ cấp dưỡng của anh chị em trong gia đình
Trong gia đình, anh, chị, em có mối quan hệ gần gũi do không chỉ cùng huyết thống mà giữa họ còn có sự chênh lệch về độ tuổi không nhiều nên về tâm lý có phần cân bằng với nhau, ít có khoảng cách hơn, ít bị tác động bởi các lễ nghi, phong tục so với các chủ thể khác là cha, mẹ, ông, bà, cô, dì, cậu, chú, bác.
Bảo vệ truyền thống gắn bó của gia đình, sự chia sẻ giữa các thành viên gia đình với nhau, Luật quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của anh, chị, em tạo cơ sở pháp lý cho việc gắn bó trách nhiệm giữa các thành viên này.
Quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em được quy định tại Điều 112 Luật hôn nhân và gia đình nhằm cụ thể hóa nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em với nhau tại Điều 107 về nội dung. Cụ thể:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của anh, chị: Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
- Nghĩ vụ cấp dưỡng của em: Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ giới hạn trong phạm vi là anh, chị, em phải không sống chung với nhau, trường hợp vẫn sống chung với nhau thì anh, chị, em có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
2. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại,nội và cháu
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu được quy định tại Điều 113 Luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của ông bà nội, ông bà ngoại với cháu: Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng (là anh, chị, em).
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu với ông bà nội, ông bà ngoại: Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng (là con đã thành niên của ông, bà).
Tuy nhiên, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà với cháu cũng chỉ giới hạn trong phạm vi là ông bà với cháu phải không sống chung với nhau, trường hợp vẫn sống chung với nhau thì onog bà và cháu có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột được quy định tại Điều 114 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của cô, dì, chú, cậu, bác ruột với cháu ruột: Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng (là cha, mẹ, anh, chị, em, ông bà nội, ông bà ngoại).
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu với cô, dì, chú, cậu, bác ruột: Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng (là con đã thành niên, cha, mẹ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột).
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột cũng chỉ giới hạn trong phạm vi là cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột phải không sống chung với nhau, trường hợp vẫn sống chung với nhau thì giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 106 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
4. Nghĩa vụ của vợ hoặc chồng sau khi ly hôn
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xuất phát từ tính nhân văn trong truyền thống, các mối quan hệ gia đình đều tồn tại trên nền tảng đạo đức, coi trọng tình nghĩa. Quan hệ vợ chồng cũng không ngoại lệ. Do đó, vợ và chồng đã ly hôn dù chấm dứt về mặt tình cảm nhưng vẫn còn tình nghĩa. Vì vậy việc luật hóa mối quan hệ này là thể hiện tính nhân văn và ghi nhận truyền thống đạo đức trở thành một quy định pháp luật.
Điều luật cũng quy định cụ thể 02 điều kiện để xác lập nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn là:
- Vợ hoặc chồng phải thuộc trường hợp khó khăn, túng thiếu và có lý do chính đáng.
- Người có khó khăn, túng thiếu yêu cầu được cấp dưỡng.
Ngoài ra, luật cũng quy định bên có nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình chứ không phải cấp dưỡng theo mức mà bên được cấp dưỡng yêu cầu.
5.Mức cấp dưỡng
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào
+ Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng
+ Và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng;
Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Về phương thức cấp dưỡng:
Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện một lần họăc định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người:
Người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người:
những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 109 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Trong các vụ án hình sự mà có người bị hại chết thì bị cáo còn có trách nhiệm bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015.
6. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp sau
– Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
– Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
– Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
– Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
– Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
– Trường hợp khác theo quy định của luật.