- 1. Đặc điểm của phòng ngừa tội phạm
- 2. Các chủ thể và thiết chế phòng ngừa tội phạm
- 3. Tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm
- 4. Vai trò phòng ngừa tội phạm của các tổ chức xã hội trong Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm
- 5. Vai trò phòng ngừa tội phạm của các tổ chức xã hội trong các văn bản luật chuyên ngành
1. Đặc điểm của phòng ngừa tội phạm
Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm được tiến hành trong hiện tại nhưng nhằm để tội phạm không xảy ra trong tương lai. Do đó, đối tượng của phòng ngừa tội phạm không chỉ là hành vi phạm tội mà còn cả những yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định phạm tội, sự sợ hãi tội phạm và sự hỗn loạn mất ổn định. Phòng ngừa tội phạm phải cho thấy tính dự đoán khả năng phạm tội để các biện pháp đưa ra đạt hiệu quả cao nhất với nguồn lực hữu hạn.
Thứ hai, phòng ngừa tội phạm do nhiều chủ thể cùng thực hiện với nhiều biện pháp khác nhau. Điều này có nghĩa rằng không chỉ nhà nước mà tất cả các chủ thể phi nhà nước cũng có trách nhiệm trong hoạt động phòng ngừa tội phạm gồm: gia đình, trường học, tổ chức xã hội … Và các chủ thể này có thể sử dụng đa dạng các biện pháp gồm cả biện pháp phi pháp lý nằm ngoài hệ thống tư pháp hình sự. Điều này là tội phạm là hiện tượng phức tạp, có khả năng xảy ra ở bất cứ không gian hay thời gian nào, do đó cần có sự tham gia của toàn cộng đồng trong hoạt động phòng ngừa.
Thứ ba, phòng ngừa tội phạm nhằm can thiệp để loại bỏ những hành vi phạm tội và xác suất xảy ra các tội phạm.
Thứ tư, hiệu quả của phòng ngừa tội phạm phải được thể hiện thông qua đầu ra của nó. Tức là, các chiến lược phòng ngừa tội phạm phải hướng đến và cần được đánh giá dựa trên kết quả thực tế là: ngăn ngừa tội phạm.
Thứ năm, phòng ngừa tội phạm là hạn chế tối đa sự bắt đầu của hành vi phạm. Hoạt động phòng ngừa được phân biệt với các hình phạt được áp dụng khi tội phạm đã xảy ra nhằm răn đe hay giáo dục.
2. Các chủ thể và thiết chế phòng ngừa tội phạm
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm được xây dựng bởi nhiều chủ thể, thiết chế và được chia thành 7 nhóm chính:
Gia đình là tập thể đầu tiên mà một cá nhân được tham gia, cho nên đây là thiết chế có vai trò trực tiếp và sớm nhất trong phòng ngừa tội phạm. Việc nuôi dạy tốt trẻ em từ khi còn nhỏ sẽ giải quyết được những vấn đề tiềm ẩn tội phạm sau này.
Trường học là tập thể thứ hai chỉ sau gia đình có vai trò giáo dục và giúp đỡ một cá nhân trong quá trình phát triển về nhận thức. Trường học cung cấp một không gian để trẻ em, thanh thiếu niên giao lưu và thực hiện các hoạt động kiểm soát xã hội đối với tội phạm từ sớm. Các hoạt động của thiết chế nhà trường gồm: dạy dỗ, đào tạo, tuyên truyền pháp luật, truyền tải chương trình phòng ngừa tội phạm đến với học sinh, sinh viên.
Thị trường tham gia phòng ngừa tội phạm chủ yếu bằng cách cung cấp việc làm để giảm thiểu thất nghiệp. Việc làm cho phép các cá nhân có được nguồn thu nhập hợp pháp để giảm thiểu áp lực sinh kế và thỏa mãn những nhu cầu của bản thân, song đây cũng là cách giảm thiểu các khoảng thời gian vô bổ và giúp một người phục hồi chức năng. Từ đó người này sẽ không thực hiện các hành vi phạm tội.
Khu dân cư và cộng đồng có vai trò thắt chặt các mối quan hệ xã hội đã bị cắt đứt hoặc suy yếu – một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ phạm tội gia tăng. Bằng việc liên kết các cá nhân có cùng điểm tương đồng, các tổ chức và khu dân cư tạo nên mạng lưới kiểm soát xã hội vững chắc và hạn chế việc một người rơi vào tình trạng bị đẩy ra rìa xã hội.
Lực lượng công an và hệ thống tư pháp hình sự đóng vai trò then chốt trong phòng ngừa tội phạm. Thông qua kiểm tra, giám sát và các biện pháp cưỡng chế cần thiết, lực lượng công an đóng vai trò giữ gìn an ninh khu vực. Trong khi đó, hệ thống tư pháp hình sự thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc đưa ra phán quyết tác động vào tâm lý người phạm tội và những người xung quanh để thực hiện mục đích giáo dục chung đối với xã hội.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe có vai trò đưa ra các chuẩn đoán và đề ra phương pháp chữa trị cho những rối loạn tâm lý và tác nhân sinh học tiêu cực ảnh hưởng đến việc một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội.
Các cơ quan nhà nước khác bao gồm các cơ quan lập pháp và hành pháp/hành chính tham gia phòng ngừa tội phạm bằng cách xây dựng luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Một số ví dụ tiêu biểu là việc pháp điển hóa các quy phạm luật hình sự, tổ chức giáo dục cộng đồng, hay các chính sách về kinh tế, xã hội … đều nhằm làm hạn chế tội phạm cả trong ngắn hạn và dài hạn.
>> Xem thêm: Các chủ thể phòng ngừa tội phạm là ai? Xã hội hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
3. Tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm
Tổ chức xã hội là một thiết chế trung tâm của cộng đồng, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phòng ngừa tội phạm. “Cộng đồng” có thể được định nghĩa là một đơn vị hữu cơ của các tổ chức xã hội đặc trưng bởi mối quan hệ và mạng lưới quan hệ cá nhân, một mức độ cao của sự tương tác xã hội và sự gắn kết, một cảm giác phụ thuộc và những mục tiêu chung, cảm giác của sự trọn vẹn.
Cách tiếp cận phòng ngừa tội phạm dưới góc độ cộng đồng đã nhấn mạnh vào sự phối hợp giữa hệ thống tư pháp hình sự và các tổ chức xã hội – giữa chủ thể phòng ngừa chính thức và chủ thể không chính thức. Một giả thuyết được đặt ra rằng, cảnh sát và hệ thống tư pháp hình sự không thể tự mình giải quyết một cách hiệu quả với tội phạm và nỗi sợ hãi tội phạm. Với cách tiếp cận này, những nỗ lực của của các hoạt động tình nguyện, tổ chức xã hội trong kiểm soát tội phạm và giảm thiểu mức độ sợ hãi phải song song tiến hành với các hành động của nhà nước (nếu sự an toàn có thể đạt được với nguồn kinh phí hạn hẹp và không có sự hy sinh tự do của người dân.
Các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động phòng ngừa tội phạm với nhiều cách thức khác nhau. Chúng bao gồm: giảm thiểu cơ hội phạm tội (thông qua tăng cường thắt chặt liên kết xã hội, củng cố sự giám sát của hàng xóm, và thay đổi các thiết kế của khu dân cư; giảm thiểu các nguyên nhân của tội phạm (thường thông qua các chương trình hướng đến người trẻ, các hoạt động giải trí, cung cấp cơ hội việc làm …); hỗ trợ các nạn nhân của tội phạm; và củng cố thêm hiệu lực của pháp luật (thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật). Ngoài ra, các tổ chức xã hội cũng đóng vai trò là những nhà tài trợ cho các chính sách, chương trình do nhà nước tổ chức về phòng ngừa tội phạm. Thêm vào đó, trên vĩ mô, các tổ chức xã hội cũng thực hiện phòng ngừa tội phạm thông qua hỗ trợ nhà nước xây dựng các chính sách để phát triển lâu dài và cũng đồng thời thực hiện và thúc đẩy các giá trị tiến bộ gồm: dân chủ, minh bạch, khoan dung, phi bạo lực, bình đẳng giới, thiện nguyện và bảo vệ môi trường.
Các tổ chức xã hội đối với hoạt động phòng ngừa tội phạm còn có vai trò như một chủ thể kiểm soát xã hội đối với tội phạm (cụ thể thuộc nhóm chủ thể thứ nhất). Trong đó, các tổ chức này có thể áp dụng các quy tắc nội bộ đối với thành viên để họ xử sự phù hợp với đạo đức và pháp luật. Tổ chức xã hội cũng có thể theo dõi, giám sát những thành viên của mình và có thể ngăn họ thực hiện các hành vi phạm tội và đồng thời cũng có thể tăng sự gắn bó trong xã hội để mọi người để loại bỏ tư tưởng phạm tội. Thêm vào đó, tổ chức xã hội còn có thể làm giảm thiểu nạn nhân hóa bằng cách bảo vệ các thành viên trong và ngoài tổ chức khỏi sự xâm hại của tội phạm.
4. Vai trò phòng ngừa tội phạm của các tổ chức xã hội trong Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm
Do có sự tham gia của nhiều chủ thể, hoạt động phòng ngừa tội phạm phải được gắn với một chiến lược hay chương trình cụ thể để đảm bảo sự nhất quán, phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước cũng như đảm bảo các biện pháp phải phù hợp với tình hình chung. Mới gần đây, Chương trình phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 đã được đưa ra vào tháng 11 năm 2021 đề cập tới những vấn đề quan trọng trong công tác phòng, chống tội phạm. Trong đó, dù không được đề cập trực tiếp, ta vẫn có thể nhận thấy các vai trò chính của các tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm được thể hiện trong một số nội dung.
Thứ nhất, về mục tiêu, yêu cầu chung, sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân cần được phát huy và cần củng cố, nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác phòng, chống tội phạm. Là một bộ phận của “toàn dân”, các tổ chức xã hội không nằm ngoài trách nhiệm trong việc đóng góp nguồn lực vào công cuộc phòng, chống tội phạm.
Thứ hai, tại mục II về nhiệm vụ và giải pháp, Chương trình đề ra nhiệm vụ rằng “Chủ động phòng ngừa tội phạm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở là chính …”. Có thể thấy rằng, vấn đề về việc kết hợp giữa các biện pháp phòng ngừa chính thức (phòng ngừa nghiệp vụ của công an và hệ thống tư pháp) và phòng ngừa không chính thức (phòng ngừa từ xã hội, cộng đồng) đã được đặt ra, điều này là phù hợp với những vấn đề lý luận đã được phân tích ở trên. Thật vậy, việc kiểm soát xã hội đối với tội phạm cũng được nhắc đến với tư cách là một hoạt động phòng ngừa tội phạm từ sớm. Với chức năng liên kết các quan hệ xã hội, tổ chức xã hội là chủ thể quan trọng trong việc làm giảm thiểu tỷ lệ phạm tội.
Thứ ba, Chương trình cũng đề cập đến nhiệm vụ tuyên truyền về công tác phòng, chống tội phạm với 4 nhiệm vụ cụ thể: tuyên truyền với mọi đối tượng trong xã hội; tuyên truyền trên mọi phương tiện truyền thông; chống lại các tư tưởng sai trái; và tổ chức các đợt cao điểm tuyên truyền. Tuyên truyền lại là một trong những hoạt động chủ đạo của các tổ chức xã hội. Thông qua tuyên truyền, các tổ chức kết nối và nâng cao nhận thức đóng vai trò là một hoạt động kiểm soát tư tưởng phạm tội trong cộng đồng. Do đó, các tổ chức xã hội là một mắt xích quan trọng có vai trò phối hợp với các chủ thể nhà nước để tuyên truyền.
Thứ tư, để vận hành được một chương trình, kinh phí là một điều kiện cần. Các nguồn kinh phí được xác định trong Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm ngoài các nguồn kinh phí từ nhà nước còn đến từ việc “huy động từ các nguồn tài trợ, viện trợ cảu các tổ chức, cá nhân …” . Các tổ chức xã hội không là gì khác ngoài một hình thức để huy động và phân bổ nguồn lực trong xã hội. Do đó, đóng góp từ tổ chức xã hội là một nguồn đóng góp quan trọng của Chương trình.
5. Vai trò phòng ngừa tội phạm của các tổ chức xã hội trong các văn bản luật chuyên ngành
Cơ sở pháp lý về sự tồn tại và hoạt động của các tổ chức xã hội được quy định tại điều 25 Hiến pháp 2013 về quyền tự do hội họp, lập hội và Nghị định 45/2010/NĐ -CP Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Theo đó, tổ chức xã hội là một dạng hội – một sự liên kết giữa các cá nhân có cùng ngành nghề, sở thích, mục đích tập hợp. Dù nghị định đã quy định tương đối đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức nhưng vai trò trong phòng ngừa tội phạm lại được thể hiện gián tiếp trong các luật chuyên ngành. Một số ví dụ về vai trò này có thể được kể đến:
Trong luật Trẻ em 2016, trách nhiệm của các Tổ chức xã hội đối với trẻ em được ghi nhận tại điều 92. Những trách nhiệm này nhằm hướng đến đảm bảo rằng trẻ em được tiếp cận với các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản và được tham gia phát biểu chính kiến của mình. Song các tổ chức cũng đảm bảo rằng trẻ em không bị xâm hại bởi tội phạm và không thực hiện các hành vi phạm tội thông qua cơ chế truyền đạt thông tin và tuyên truyền pháp luật từ sớm. Cụ thể:
- Tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, dịch vụ vì trẻ em.
- Tiếp nhận, thu thập thông tin và phản hồi lại với chủ thể có thẩm quyền.
- Cung cấp dịch vụ đáp ứng quyền trẻ em.
- Phòng ngừa hành vi vi phạm.
- Đảm bảo sự tham gia của trẻ em vào các chính sách, chương trình liên quan đến chúng.
Đối với thanh niên, vai trò của tổ chức xã hội nằm ở việc vận động học tập, lao động, nâng cao văn hóa, thể lực, đạo đức và trí tuệ cũng như phối hợp với các cơ quan nhà nước trong xây dựng, phát triển các chính sách và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thanh niên (theo điều 32 Luật Thanh niên 2020).
Trong từng lĩnh vực cụ thể, các tổ chức xã hội cũng cho thấy vai trò tuyên truyền, phổ biến pháp luật và phối hợp với các cơ quan nhà nước trong công tác phòng ngừa tội phạm.
Ví dụ trong Luật phòng chống ma túy sẽ có hiệu lực vào ngày 1/1/2022, tại điều 10: Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng, chống ma túy trong Nhân dân; vận động Nhân dân tham gia phòng, chống ma túy và thực hiện các phong trào phòng, chống ma túy; Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy; Phối hợp với chính quyền địa phương các cấp, cơ quan có thẩm quyền vận động người nghiện ma túy thực hiện biện pháp cai nghiện ma túy, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; tham gia cảm hóa, giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện ma túy.
Trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, trách nhiệm của các tổ chức xã hội (cụ thể các tổ chức là sự liên kết giữa các doanh nghiệp, doanh nhân trong cùng một ngành nghề) được quy định tại điều 72 Luật Phòng chống tham nhũng. Trong đó nổi bật nhất là trách nhiệm tuyên truyền, động viên người lao động, thành viên thực hiện pháp luật và thông báo về các hành vi tham nhũng. Các tổ chức này cũng có trách nhiệm kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng chống tham nhũng.
Trong giáo dục, tổ chức xã hội có trách nhiệm phối hợp với các nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đẩy xã hội hóa trong trường học tại điều 59 Luật giáo dục 2019 (được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 24/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/05/2021). Xem thêm: Phòng ngừa tội phạm là gì? Mục đích, nội dung, phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm