1. Quy định chung về án phí trong vụ án ly hôn
Án phí là số tiền mà Tòa án quyết định đương sự phải thanh toán khi giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, cũng như những vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS) về án phí trong vụ án ly hôn, nguyên đơn chịu trách nhiệm về án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay từ chối yêu cầu của họ. Trong trường hợp ly hôn thuận tình, cả hai bên đương sự sẽ chia đều án phí sơ thẩm.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tại khoản 5 Điều 27, quy định chi tiết về việc chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Cụ thể, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm liên quan đến ly hôn mà không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay từ chối yêu cầu của họ. Trong trường hợp ly hôn thuận tình, mỗi bên đương sự sẽ chịu 50% mức án phí.
Ngoài ra, đối với các tranh chấp liên quan đến chia tài sản chung trong vụ án hôn nhân và gia đình, đương sự sẽ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Nghị quyết trên. Họ cũng sẽ phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp, tương đương với giá trị của phần tài sản mà họ tranh chấp, giả sử có sự chia tài sản sau ly hôn.
Khoản 14 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích rằng ly hôn là hành động chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Các tranh chấp liên quan đến hôn nhân và gia đình, như ly hôn, quyền nuôi con, chia tài sản sau khi ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Hôn nhân và Gia đình.
Đầu tiên, đối với những vụ án đầy đủ ba yếu tố: ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con, và phân chia tài sản sau ly hôn, nếu các bên thỏa thuận giải quyết mọi tranh chấp trước khi bắt đầu phiên tòa, Tòa án sẽ ban hành Quyết định công nhận ly hôn thuận tình và quyết định đặt ra rằng bên đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí. Theo hướng dẫn chi tiết của Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thống nhất áp dụng quy định về án phí trong vụ án ly hôn, nếu không có thay đổi về nội dung của luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không có hướng dẫn mới. Do đó, đối với vụ án ly hôn mà các bên đồng lòng ly hôn, áp dụng nguyên tắc tương tự như hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, điều này hướng dẫn cụ thể về áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí và lệ phí Tòa án trong vụ án ly hôn khi các bên đồng tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, hướng dẫn không nêu rõ về cách tính 50% mức án phí, liệu đó có là 25% cho án phí ly hôn và 25% cho án phí chia tài sản chung, hay là 50% cho cả hai loại án phí. Sự thiếu rõ ràng trong hướng dẫn này dẫn đến sự hiểu sai và không đồng nhất trong cách tính án phí, làm mất đi sự nhất quán trong quy định.
Thứ hai, đối với các vụ án liên quan đến ly hôn, quyền nuôi con, và phân chia tài sản chung, trong quá trình giải quyết, nếu các bên đương sự đồng lòng ly hôn nhưng không đạt được thỏa thuận về quyền nuôi con và phân chia tài sản chung, Tòa án sẽ tiến hành xét xử vụ án. Tại phiên tòa, các đương sự vẫn duy trì quan điểm thuận tình ly hôn, nhưng không đồng nhất về quyền nuôi con và phân chia tài sản chung. Bản án quyết định công nhận ly hôn thuận tình, giao quyền nuôi con chung cho một trong các bên và phân chia tài sản chung.
Đối với vấn đề án phí trong trường hợp này, có hai quan điểm:
Quan điểm 1: Cả hai bên đương sự chịu án phí là 50% (tức là mỗi bên 25%), vì đã đồng lòng ly hôn và không có quy định cụ thể về án phí liên quan đến quyền nuôi con. Án phí chia tài sản chung được tính theo giá trị mà mỗi bên được hưởng.
Quan điểm 2: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, và các đương sự phải chịu án phí chia tài sản chung theo giá trị mà họ được hưởng. Vì vụ án thực sự là trường hợp ly hôn tự nguyện nhưng không đạt được thỏa thuận về chia tài sản, cũng như về trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, nên Tòa án phải tiến hành xét xử thay vì ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Các đương sự sẽ phải chịu 50% án phí (mỗi bên 25%) khi đạt đủ điều kiện theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 55 này phù hợp với Điều 212 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự về việc ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự khi họ đạt được thỏa thuận về giải quyết toàn bộ vụ án.
Bởi vì cách tính án phí trong các vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình liên quan đến ba mặt: hôn nhân, quyền nuôi con, và phân chia tài sản chung, đang gặp khó khăn, vì vậy, sự hướng dẫn thống nhất từ các cơ quan liên ngành là cần thiết để đảm bảo tính nhất quán trong giải quyết các vụ án này.
2. Những trường hợp được miễn án phí ly hôn
Theo điều 12, khoản 1 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, quy định về những trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, và lệ phí Tòa án như sau:
- Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
- Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín.
- Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.
Do đó, nhóm đối tượng được miễn án phí ly hôn bao gồm:
- Cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo.
- Người cao tuổi.
- Người khuyết tật.
- Người có công với cách mạng.
- Đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
- Thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.
3. Ai phải đóng tiền tạm ứng án phí khi ly hôn?
Tại Điều 146 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, có quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí và tiền tạm ứng lệ phí. Theo đó, trong trường hợp ly hôn đơn phương, người nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương phải thực hiện việc đóng tiền tạm ứng án phí ly hôn.
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, vợ và chồng có thể đạt được thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ khi được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp vợ và chồng không thể đạt được thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, thì mỗi người sẽ chịu trách nhiệm nộp một nửa số tiền tạm ứng lệ phí.
Bài viết liên quan: Án phí là gì? Quy định án phí với người cao tuổi? Điều kiện để được miễn án phí ?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi