1. Các văn bản hướng dẫn hành vi cạnh tranh không lành mạnh ?

Thưa luật sư, Em đang làm niên luận về cạnh tranh không lành mạnh. Luật sư cho em biết một số văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn..

Các văn bản hướng dẫn hành vi cạnh tranh không lành mạnh?

Luật sư tư vấn pháp luật về cạnh tranh, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Hiện nay không có quy định cụ thể chi tiết riêng biệt về hành vi cạnh tranh không lành mạnh hướng dẫn chi tiết Luật cạnh tranh 2004. Nhưng căn cứ vào các hành vi nằm trong hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì có thể xác định được một số quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề này như sau:

- Đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bạn có thể tham khảo quy định tại Luật quảng cáo 2012 ( đối với các hoạt động quảng cáo khác pháp luật có quy định cấm tại Điều 7 Luật quảng cáo 2012)

- Đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính bạn có thể tham khảo quy định về hoạt động quản lý bán hàng đa cấp tại nghị định 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp của Chính phủ.

- Đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn( bao gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh bạn có thể căn cứ các quy định về các vấn đề tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý trong quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2009 sửa đổi, bổ sung về các hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng đó)

- Đối với hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh bạn có thể tham khảo quy định tại Luật thương mại 2005 phần quy định về các hành vi bị cấm đối với hoạt động khuyến mại tại Điều 100.

Những điều cần lưu ý: Ngoài ra, hoạt động tố tụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được hướng dẫn chi tiết tại nghị định 116/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật cạnh tranh 2004. Tham khảo thêm: Nghị định 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Cạnh tranh không lành mạnh là gì ?

Cạnh tranh là tốt, là động lực phát triển. Trong kinh doanh, sự cạnh tranh đem đến cho người tiêu dùng nhiều lợi ích : hàng hóa tốt hơn, giá mua rẻ hơn… Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc lành mạnh, công bằng, không có sự “ăn gian” hoặc những “thủ thuật” trái pháp luật. Vì nếu như vậy thì chẳng những doanh nghiệp làm ăn chân chính bị “chơi bẩn” mà ngay người tiêu dùng cũng chẳng lợi lộc gì.

Cạnh tranh không lành mạnh !

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Từ năm 2004, chúng ta (Việt Nam) đã ban hành Luật cạnh tranh, qui định thế nào là những hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự và thủ tục giải quyết các vụ việc tranh chấp về cạnh tranh … mục đích là bảo đảm một “sân chơi” lành mạnh giữa các doanh nghiệp có cùng ngành nghề kinh doanh.

Tại Điều 39 qui định về các hành vi được xem là cạnh tranh không lành mạnh, bị cấm. Chủ yếu gồm 9 hành vi sau :

1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;

3. ép buộc trong kinh doanh;

4. Gièm pha doanh nghiệp khác;

5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;

9. Bán hàng đa cấp bất chính;

Cụ thể hơn, chúng tôi xin được phân tích như sau :

* Chỉ dẫn gây nhầm lẫn là việc doanh nghiệp sử dụng những thông tin chỉ dẫn (chẳng hạn trên bao bì, nhãn hàng, các pano quảng cáo ...) gây ra sự nhầm lẫn về tên thương mại, logo, chỉ dẫn địa lý ... để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình.

Ví dụ : Sản phẩm trà chanh Nestea của Nestle và trà chanh Freshtea của Công ty Thuý Hương.

Sản phẩm trà chanh Nestea hiện được ưa chuộng trên thị trường nhưng không ít khách hàng, nhất là khách hàng ở các tỉnh, bị nhầm lẫn với Freshtea của công ty Thuý Hương.

Theo tài liệu của Công ty sở hữu trí tuệ Banca được công bố công khai trong cuộc hội thảo do Bộ Công thương tổ chức thì, công ty Thuý Hương (Thanh Trì, Hà Nội) đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Cụ thể, Thuý Hương đã sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn giữa Freshtea và Nestea. Sự tương tự về phần chữ: Cấu tạo, cách phát âm và tương tự cả về cách trình bày, bố cục, mầu sắc. Trông bề ngoài, nếu không để ý sẽ khó phát hiện hai gói trà chanh này là do hai công ty khác nhau sản xuất. Một số người tiêu dùng được hỏi thì cho rằng, cả Freshtea và Nestea cùng là sản phẩm của công ty Nestle, vì trông chúng rất... giống nhau!

Cùng nằm trong dòng sản phẩm của công ty Nestlé, sản phẩm sữa Milo bị tới hai hãng khác cạnh tranh không lành mạnh thông qua các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Sản phẩm sữa Good Cacao của Cty Mina được sản xuất với những điểm tương tự sữa Milo như: Tương tự về bao gói sản phẩm, cách thức trình bày, bố cục, mầu sắc.

Ví dụ về quảng cáo sai chỉ dẫn địa lý, xuất xứ : Một doanh nghiệp bán nước mắm ghi là "Nước mắm Phú Quốc" nhưng thực chất đóng chai tại TP.HCM.

* Xâm phạm bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp có các hành vi như tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác, tiết lộ, sử dụng thông tin, bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu chân chính...

* Ép buộc trong kinh doanh là việc doanh nghiệp ép buộc, đe dọa khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ không cho họ giao dịch hoặc phải ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

* Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là việc một doanh nghiệp có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp “đối thủ”.

* Quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh là việc doanh nghiệp:

- So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;

Ví dụ về việc quảng cáo so sánh nói xấu đối thủ : Nệm KimDan

Vài năm trước, có chuyện công ty Kim Đan - là nhà sản xuất nệm cao su tự nhiên lớn nhất tại TP. HCM đã đăng quảng cáo trên 5 tờ báo lớn với nội dung như sau:

Đối với nệm lò xo, do tính chất không ưu việt của nguyên liệu sản xuất nên chất lượng nệm sẽ giảm dần theo thời gian. Nếu độ đàn hồi của lò xo cao, lò xo dễ bị gãy, gây nguy hiểm cho người sử dụng. Đối với nệm nhựa tổng hợp poly-urethane (nệm mút xốp nhẹ) tính dẻo ưu việt nên không có độ đàn hồi, mau bị xẹp. Chính vì những lý do đó mà Kim đan hoàn toàn không sản xuất nệm lò xo cũng như nệm nhựa poly-urethane. Tất cả các sản phẩm của Kim đan đều được làm từ 100% cao su thiên nhiên, có độ bền cao và không xẹp lún theo thời gian...”.


Ngay sau khi mẫu quảng cáo trên phát hành, 3 công ty sản xuất nệm lò xo và nệm mút đã khởi kiện Kim Đan ra toà với lý do quảng cáo của Kim Đan không có căn cứ, gây thiệt hại đến uy tín sản phẩm của họ.

- Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;

Ví dụ về nhãn hiệu gây nhầm lẫn : Cà phê Trung Nguyên

Công ty cà phê Trung Nguyên với thương hiệu G7 nổi tiếng cũng bị quy vào một trong những doanh nghiệp có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Công ty Trung Nguyên đã sử dụng nhãn hiệu ba chiều hình cốc đỏ của Nestlé để so sánh trực tiếp sản phẩm G7 của họ với sản phẩm Nescafé của Nestles. Đó thực chất là việc so sánh trực tiếp sản phẩm nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

- Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công ...

* Khuyến mại không lành mạnh là việc :

- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng, không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.

- Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;

- Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình;

Ví dụ về khuyến mãi không đúng : Bột nêm massan:
Theo một công bố của Ban Điều tra và Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì Công ty Massan đã đưa ra chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại TP. Hồ Chí Minh.

Cụ thể, công ty này đưa ra chương trình khuyến mại bột canh, người tiêu dùng có thể đem gói bột canh dùng dở đến đổi lấy sản phẩm Massan. Hành vi này được quy định là một trong các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: “Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử, nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại đang sử dụng do doanh nghiệp khác sản xuất”.

Công ty Unilever Bestfood đã khiếu nại về chương trình khuyến mại này tới Sở Thương mại TP.Hồ Chí Minh. Thanh tra Sở đã lập biên bản và yêu cầu đình chỉ chương trình khuyến mại.

* Bán hàng đa cấp bất chính là việc doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:

1. Yêu cầu người tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

3. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

4. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.

Ví dụ về bán hàng đa cấp bất chính: Công ty Nino Vina phân phối sản phẩm nước trái nhàu ở Việt Nam

Nino Vina là một công ty phân phối sản phẩm nước trái nhàu ở Việt Nam. Công ty này qui định : Để có thể trở thành thành viên cấp I của mạng lưới phân phối, các phân phối viên phải mua 1 thùng 4 chai nước Tahitian Noni Juice với giá gốc là 2,7 triệu đồng, giá phân phối là 3,2 triệu đồng. Nếu thành viên cấp I giới thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới (mỗi người lại đóng 2,7 triệu đồng) thì sẽ được hoa hồng 20% tổng số tiền những người này mua sản phẩm. 3 người sau này được coi là thành viên cấp II. Nếu các thành viên cấp II này giới thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới thì thành viên cấp I sẽ tự động được hưởng thêm 5% tổng số tiền mà 3 thành viên cấp III nộp để mua sản phẩm.

Theo tính toán, khi mạng lưới phát triển đến tầng thứ 8 thì số tiền hoa hồng được chuyển về tài khoản của “người lôi kéo” ban đầu là 56,2 triệu đồng mặc dù người này không phải làm gì ngoài việc rủ rê được 3 người mới tham gia vào mạng lưới phân phối. Như vậy theo mô hình trả hoa hồng này, thu nhập thu được không phải xuất phát việc bán sản phẩm mà là do chiếm dụng tiền của các thành viên tiếp theo trong mạng lưới.

Ngoài các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm như trên, Luật Cạnh tranh càng cấm nhiều hành vi có dấu hiệu “hạn chế cạnh tranh”. Hiểu theo nghĩa nôm na, là những hành vi đơn lẻ hoặc giữa một nhóm doanh nghiệp cùng ngành kinh doanh, nhằm mục đích tạo ra những sự “cản trở”, không cho các doanh nghiệp khác có cơ hội cạnh tranh với mình.
Có 2 dạng hành vi « hạn chế cạnh tranh » gồm :

- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, và

- Làm dụng vị trí thống lĩnh hay độc quyền trên thị trường.

Trong một số trường hợp, các hành vi có dấu hiệu « hạn chế cạnh tranh » như trên có thể bị cấm.

Dưới đây là một ví dụ về việc hai doanh nghiệp đã có hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Công ty phát thanh cáp Atys và cap Seco Nhật Bản
Công ty phát thanh cáp Atys và Công ty phát thanh cáp Seco, là hai nhà cung cấp hệ thống cáp duy nhất tại một địa phương ở Nhật Bản. Họ thường thu phí sử dụng truyền hình cáp của người dân địa phương là 300 yên/tháng và những người dân ngoài địa phương là 400-500 yên/tháng.

Tuy nhiên, từ giữa năm 2003, Atys và Seco đã cùng gửi thư đến những người sử dụng dịch vụ của họ để thông báo về việc tăng phí. Cả hai đã thừa nhận là do chi phí cho các kênh chương trình tăng giá và sự cạnh tranh khốc liệt lãng phí giữa họ nên cả hai đều phải chịu thua lỗ.

Vì vậy, Atys và Seco đã thỏa thuận với nhau và quyết định chấm dứt cạnh tranh về giá và xóa bỏ việc giảm giá cho những người sử dụng cư trú ở các khu nhà ở và các khu liên hợp. Hai bên cũng nhất trí là sẽ điều chỉnh giá dịch vụ.
Theo quyết định Uỷ ban cạnh tranh Nhật Bản, Atys và Seco bị yêu cầu chấm dứt việc thực hiện hành động trên. Đối với trách nhiệm hình sự của họ, vụ việc này sẽ được chuyển cho công tố viên để điều tra thêm.

Vụ việc trên của Atys và Seco là một dấu hiệu cảnh báo đối với các doanh nghiệp muốn dùng cách “thông đồng” để thu lợi nhuận lớn ngay trước mắt thay vì sử dụng chính năng lực cạnh tranh và khả năng thực tế của mình để thu hút khách hàng.

(MKLAW FIRM: Tổng hợp)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng;

3. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay, các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến là gây nhầm lẫn; chỉ dẫn sai lệch; làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh; tiết lộ thông tin bí mật; lợi dụng thành quả của người khác và quảng cáo so sánh.

Cơ sở pháp lý:

  • Công ước Paris về Sở hữu công nghiệp
  • Hiệp định TRIPS của WTO năm 1994

Gây nhầm lẫn:

Tiết lộ thông tin bí mật:

Lợi dụng thành quả của người khác:

Quảng cáo so sánh có thể thuộc hai dạng:

  • Đối chiếu một cách tích cực với sản phẩm của người khác (tuyên bố rằng sản phẩm của họ tốt như sản phẩm của người khác)
  • Hoặc đối chiếu một cách tiêu cực (tuyên bố rằng sản phẩm của họ tốt hơn sản phẩm của người khác). Trong trường hợp đầu tiên, sản phẩm của đối thủ cạnh tranh thường là nổi tiếng, nghi vấn chủ yếu liên quan đến khả năng lợi dụng uy tín của người khác.

Trong trường hợp thứ hai, khi sản phẩm của đối thủ cạnh tranh bị chỉ trích sẽ nảy sinh nghi vấn về việc làm mất uy tín. Tuy nhiên, cả hai dạng so sánh trên đều liên quan đến việc đối chiếu (không được phép) đến một đối thủ cạnh tranh bằng cách nhắc đến tên của hoặc thông qua dấu hiệu khác mà công chúng có thể nhận diện được.

Trân trọng ./.

4. Những trở ngại trong xử lý cạnh tranh không lành mạnh

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng. (Điều 3- khoản 4 – Luật cạnh tranh)

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu theo hai góc độ:

Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại:

- Ép buộc trong kinh doanh;

- Gièm pha doanh nghiệp khác;

- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

- Phân biệt đối xử của hiệp hội;

- Bán hàng đa cấp bất chính.

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại được giải thích cụ thể tại điều 42 đến 48- Luật cạnh tranh.

Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp (SHCN):

- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

- Xâm phạm bí mật kinh doanh;

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN được quy định cụ thể tại Điều 130 – Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT):

a. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

c. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

d. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh lần đầu tiên đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của bảo hộ Sở hữu công nghiệp vào năm 1900 tại Hội nghị ngoại giao Brusels về Sửa đổi Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng việc bổ sung Điều 10 bis vào Công ước. Ở đâu có tự do cạnh tranh là ở đó có khả năng xảy ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là kết quả tất yếu của một hệ thống kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhân phần lớn hoạt động vì lợi nhuận của chính mình, cần phải có cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế tự chủ. Thông qua cạnh tranh người mua là người được hưởng lợi, và xã hội cũng phát triển. Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung cấp các sản phẩm có ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất, giá thành rẻ nhất và chất lượng tốt nhất nhằm được người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên, sự nỗ lực của một doanh nghiệp chân chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ quy tắc cơ bản của cạnh tranh, cố ý lừa dối người tiêu dùng và giành lợi thế bằng cách hạ thấp đối thủ cạnh tranh.

Cạnh tranh “không lành” thì luôn “mạnh”?

Hy vọng là đây chỉ là cách nghĩ thiển cận của ai đó mất lòng tin tạm thời vào các quy định pháp luật. Nhưng quả thật, hiện nay các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ở Việt Nam vô cùng phổ biến và ngày càng gia tăng, nhưng sự điều chỉnh và chế tài của pháp luật trong lĩnh vực này dường như “trở tay” không kịp. Đặc biệt là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN đang diễn ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp có chủ trương cạnh tranh lành mạnh và người tiêu dùng. Hễ một Nhà hàng ăn uống có một cái tên ấn tượng trên biển hiệu và kinh doanh hiệu quả thì ngay lập tức sẽ có hàng chục “bản sao” biển hiệu đó rải rác trên khắp thành phố, cùng địa bàn quận hoặc thậm chí trên cùng một con đường nhỏ. Khi một sản phẩm của một doanh nghiệp A, mang Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ trở nên chiếm lĩnh thị trường, được người tiêu dùng ưa chuộng thì không bao lâu sau hàng tá cơ sở khác cũng tung ra sản phẩm giống y hệt từ kiểu dáng, màu sắc và mang chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn với Nhãn hiệu đã đăng ký. Đương nhiên là chất lượng không thể bằng nhưng sản phẩm cố ý gây nhầm lẫn giá thành có thể rẻ hơn. Do đó, người tiêu dùng bị nhầm lẫn giữa các sản phẩm, không biết đâu là sản phẩm mang Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ mà mình mong muốn mua và phân vân về chất lượng sản phẩm. Hậu quả là sản phẩm của doanh nghiệp chân chính bị rơi vào thế cạnh tranh trực diện, ảnh hưởng lớn tới uy tín, thị phần và đối mặt với việc thương hiệu của mình bị “nuốt” dần. Điều đáng nói hơn là người tiêu dùng phần lớn không nhận dạng được các thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh, hoặc nếu có nhận ra thì cũng lắc đầu cho qua bởi liệu có thể phản ứng sao đây khi đó đã trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội? Chúng ta không khỏi tự hỏi do đâu mà những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra và tăng lên hàng ngày hàng giờ?

Lý do cố hữu: thiếu cơ sở pháp luật?…

Điểm lại các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh và Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, có thể nhận thấy rằng đã có các quy định điều chỉnh trực tiếp về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trước khi Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp được ghi nhận bảo hộ trong Nghị định của Chính phủ số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000. Với sự ra đời của Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ, hệ thống pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới quyền SHCN khá rõ ràng về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đạt độ tương thích với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước khác trên thế giới. Các nhà làm luật đã kỳ vọng rằng Pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN sẽ bước đầu chủ động tạo môi trường pháp lý để hạn chế tối đa hậu quả của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư vào khoa học- công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế để đạt được hiệu quả như mong muốn quả không đơn giản chút nào.

Hầu hết các quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đều là quy phạm nội dung, còn thiếu các quy phạm thủ tục và những hướng dẫn cụ thể về trình tự xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN. Phải thừa nhận rằng đó là thực trạng chung của công tác xử lý xâm phạm quyền SHTT, chứ không chỉ của riêng việc xử lý cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN.

Như đã đề cập ở trên, quy định pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam đã có độ tương thích nhất định với Pháp luật quốc tế nhưng sự mâu thuẫn lại xảy đến giữa chính các quy định pháp luật trong nước với nhau. Các quy định pháp luật xử lý cạnh tranh không lành mạnh và các quy định pháp luật bảo hộ quyền SHTT khác, quy định pháp luật thương mại, doanh nghiệp vẫn chưa có sự đồng bộ, thống nhất. Một ví dụ điển hình cho thấy sự xung đột giữa quyền tác giả, quyền kinh doanh và quyền đối với Nhãn hiệu. Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm/dịch vụ mà họ đang kinh doanh. Sau đó, Doanh nghiệp B đăng ký kinh doanh cùng tên với Nhãn hiệu mà Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ. Doanh nghiệp C lại có Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm là mẫu chữ, logo có trên biển hiệu, cùng tên với Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ. Rõ ràng, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại của Doanh nghiệp B và Doanh nghiêp C là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký Bản quyền tác giả bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghĩa là họ đã có được những quyền hợp pháp tương ứng với những tài liệu đó. Luật sư bảo vệ quyền lợi cho khách hàng là Doanh nghiệp A sẽ phải lập luận thế nào để có thể xử lý được hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi hành vi này lại được dựa trên cơ sở một sự bảo hộ khác, được xác lập theo đúng trình tự pháp luật? Ngay cả các cơ quan thực thi quyền Sở hữu trí tuệ, trong quá trình xử lý loại hành vi xâm phạm quyền SHTT này đôi khi cũng khó đưa ra một quyết định triệt để vì có quá nhiều cách áp dụng pháp luật khác nhau cho cùng một vụ việc, mà nghe chừng cứ cân nhắc mãi thì “cách hiểu nào cũng không sai!”

… Hay hệ thống cơ quan thực thi hoạt động chưa hiệu quả?

Theo quy định pháp luật hiện hành, thì cơ quan thực thi quyền SHTT nói chung, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền SHCN bao gồm sáu Cơ quan:

- Toà án nhân dân

- Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Khoa học- Công nghệ

- Quản lý thị trường

- Hải quan

- Công an

- Uỷ ban nhân dân các cấp

Ngoài ra, theo Luật cạnh tranh, cơ quan xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh là Cơ quan quản lý cạnh tranh do Chính phủ quyết định thành lập. Tháng 2/2005, Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại đã được thành lập, có thẩm quyền xử lý những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại như: ép buộc trong kinh doanh, quảng cáo so sánh, bán hàng đa cấp bất chính.

Khi cho rằng người khác có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền SHCN, chủ thể bị thiệt hại có quyền làm Đơn đề nghị Cục SHTT thẩm định về hành vi đó. Cục SHTT sẽ ban hành Công văn, kết luận hành vi thẩm định là hoặc không là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nếu có, người bị thiệt hại dựa trên kết luận thẩm định của Cục SHTT chủ động yêu cầu một trong sáu cơ quan trên xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh tuỳ theo thẩm quyền của từng cơ quan. Tuy hệ thống cơ quan thực thi đã được pháp luật quy định cụ thể, nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan hầu như không có, cơ quan nào trong quá trình thực thi cũng gặp phải những khó khăn nhất định.

Biện pháp bảo hộ được lựa chọn cuối cùng:

Những Luật sư hành nghề trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ thường rất dè dặt khi tiếp cận và tư vấn hoặc bảo vệ cho khách hàng trong một vụ xử lý cạnh tranh không lành mạnh. Bởi lẽ, chúng tôi dự liệu được việc xử lý xâm phạm SHTT nói chung, xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng rất khó khăn và kéo dài, khó dứt điểm trong một hành lang pháp lý đã khá đủ nhưng chưa thống nhất. Hơn nữa, Luật sư phải đứng trước nghĩa vụ chứng minh hàng loạt vấn đề khác nhau để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong một vụ việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

• Sản phẩm bị cạnh tranh không lành mạnh là sản phẩm có danh tiếng, uy tín của chủ thể bị thiệt hại;

• Kiểu dáng bao bì, nhãn sản phẩm của chủ thể bị thiệt hại là chỉ dẫn thương mại;

• Người bị kiện đã sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về hàng hoá nhằm mục đích lợi dụng uy tín, danh tiếng của chủ thể bị thiệt hại trong sản xuất kinh doanh, và làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác;

• Chủ thể bị thiệt hại đã thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Tất cả những vấn đề cần phải chứng minh nêu trên đều là những tiêu chí định tính, được xem xét bằng nhận thức chủ quan, không có định lượng cụ thể, và không dễ chứng minh chút nào. Trong khi đó, đối với các xâm phạm quyền SHCN được cấp Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu chỉ cần chứng minh quyền của mình bằng văn bằng bảo hộ. Trên thực tế, nếu như các biện pháp bảo vệ quyền khác (như quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp) không thể bảo vệ chủ sở hữu đối tượng SHTT trước hành vi xâm phạm tinh vi như bắt chước màu sắc, cách thức quảng cáo,… thì chủ sở hữu mới đành lựa chọn khởi kiện người sử dụng những thành quả đầu tư của mình vào mục đích kinh doanh trên cơ sở hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Có nghĩa là quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là biện pháp bảo hộ cuối cùng, nếu các biện pháp bảo hộ khác không có hiệu quả và ít ai đặt hy vọng vào tính khả thi của biện pháp cuối cùng này, kể cả các Luật sư.

Đã đến lúc phải đồng bộ hoá các quy định pháp luật:

Sự xung đột pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh như đã phân tích, xét cho cùng luôn làm ảnh hưởng đến quyền lợi và môi trường kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp. Trong một vụ việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nếu các bên đưa ra các cơ sở bảo hộ quyền khác nhau: Giấy chứng nhận bản quyền Tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký Nhãn hiệu hàng hoá,… thì hẳn là khiến cơ quan thực thi bế tắc không thể giải quyết dứt điểm. Kết quả là phần lớn các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đều chưa có hướng xử lý chắc chắn.

Theo lý thuyết kinh tế học, mục tiêu đặt ra là sao cho cạnh tranh trong kinh tế cũng tương tự như trong thể thao, ở đó người giỏi nhất sẽ là người chiến thắng và người sử dụng tiểu sảo và hành vi gian dối sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Không ai khác người tiêu dùng sẽ là người trọng tài công bằng nhất, ngăn chặn doanh nhân không trung thực bằng cách không quan tâm đến hàng hoá hoặc dịch vụ của họ và ủng hộ những doanh nhân trung thực. Đó là một cơ chế tự điều chỉnh ở tầm quá hoàn hảo mà chúng ta chưa thể ngay lập tức đạt đến được. Bởi vậy, trước mắt, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này thật hoàn chỉnh, để các quy định pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trở nên thống nhất. Việc bảo hộ quyền cho đối tượng SHTT này sẽ không làm ảnh hưởng đến việc bảo hộ quyền cho đối tượng SHTT khác.

Có lẽ sứ mệnh của các đạo luật gốc như Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực này là quá lớn, phải đặt nền tảng cho một cơ chế thực thi quyền SHTT và cạnh tranh thương mại hoàn hảo. Trong khi sức truyền tải của chừng ấy chương, điều là có hạn, nên nội dung của các quy định pháp luật trong lĩnh vực xử lý cạnh tranh không lành mạnh còn khái quát. Với tình trạng này, hiệu quả của nó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào khả năng trung thành nhưng linh hoạt của các văn bản chi tiết hoá. Chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm các quốc gia có nền kinh tế và pháp luật cạnh tranh đã phát triển qua hơn một thế kỷ như Cộng hoà Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada,… Họ luôn bộc lộ một tư duy pháp lý mở về xử lý cạnh tranh không lành mạnh, luôn cố gắng lượng hoá một cách cụ thể những dấu hiệu của hành vi mà nhà làm luật coi là cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, trong quá trình thực thi, luật pháp của các quốc gia này còn trao cho cơ quan thực thi quyền phân tích tính ảnh hưởng (tác động) của từng trường hợp cụ thể đối với thị trường để quyết định biện pháp áp dụng đối với từng người vi phạm.

Rõ ràng tình trạng gia tăng của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh không phải là nguyên nhân dẫn đến trở ngại trong việc xử lý loại hành vi này. Trái lại, sự chậm trễ phản ứng của pháp luật mới chính là nguyên nhân khiến hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng nhân rộng lên, phức tạp hơn. Vấn đề mấu chốt cần làm để giải quyết trở ngại đó là sự kết hợp hài hoà giữa sự chi tiết của pháp luật và tính năng động của các cơ quan thực thi. Lẽ dĩ nhiên, Luật sư luôn được đòi hỏi một kiến thức chuyên sâu về SHTT và thương mại cũng như lòng kiên trì để tham gia vào lĩnh vực này.

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)