1 Quy định chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử
Dù làm bất cứ một việc gì nếu công việc chuẩn bị chu đáo, đầy đủ thì mới thành công. Sự thành công của hoạt động xét xử phụ thuộc nhiều vào công việc chuẩn bị. Tuy nhiên, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có tính chất đặc thù khác với sự chuẩn bị các công việc khác ở chỗ việc chuẩn bị xét xử phải tuân theo một trình tự bắt buộc theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Chuẩn bị xét xử là chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng phải thực hiện một số việc theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong quá trình thực hiện các công việc đó nếu đủ điều kiện thì mới đưa vụ án ra xét xử, nếu không đủ điều kiện thì vụ án sẽ không được đưa ra xét xử hoặc phải lui lại một thời gian khi có đủ điều kiện. Không phải vụ án nào được khởi tố điều tra, hoặc truy tố đều phải đưa ra xét xử, mà thực tiễn có nhiều vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Toà án đã phát hiện việc đưa vụ án ra xét xử là không cần thiết nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, có trường hợp sắp đến ngày mở phiên toà thì Viện kiểm sát quyết định rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án. Như vậy giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án không chỉ thực hiện một số việc để đưa vụ án ra xét xử cho tốt mà còn giải quyết những vấn đề tồn tại của vụ án, xử lý các tình huống đưa ra các quyết định có liên quan đến việc đưa hoặc không đưa vụ án ra xét xử.
2 Thời hạn chuẩn bị xét xử
Theo quy định tại điều 277 BLTTHS năm 2015 quy định
Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
- Đưa vụ án ra xét xử;
- Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
- Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp
Chánh án Toà án có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 15 ngày đốì với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá 30 ngày đôí với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải mở phiên toà trong thời hạn 15 ngày; trong trường hợp có lý do chính đáng thì có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày. Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử lại không phải bao giờ cũng xảy ra như vậy mà không ít trường hợp vụ án được trả lại để điều tra bổ sung, sau khi Toà án nhận lại hồ sơ vẫn có thể ra một trong những quyết định như
- Tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp cơ quan điều tra chưa đáp ứng được những yêu cầu mà Toà án đề ra để điều tra bổ sung, thậm chí không đáp ứng được phần nào
- Quyết định tạm đình chỉ vụ án, nếu sau khi nhận lại hồ sơ bị cáo mới bỏ trốn hoặc mới mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y.
- Quyết định đình chỉ vụ án, nếu sau khi nhận lại hồ sơ bị cáo mới chết.
3 Các quyết định của tòa án trong thời gian chuẩn bị xét xử
Trong thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, có nhiều việc Toà án phải thực hiện, trong đó có việc nhằm tạo điều kiện để việc xét xử đạt kết quả tốt như: áp đụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn, triệụ tập phiên toà, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử; có việc nhằm trở lại giai đoạn điều tra như: trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc truy tố lại; có việc nhằm tạm dừng giải quyết vụ án hoặc dừng hẳn việc giải quyết vụ án như: tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án. Tất cả các hoạt động này đều phải tuân theo những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và được thực hiện bằng một quyết định dưới hình thức là một văn bản.
Các biện pháp ngăn chặn bao gồm : bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong các biện pháp ngăn chặn nói trên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án chỉ có thể áp dụng các biện pháp như: tạm giam, cấm đi khỏi nơi C- trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Toà án áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp bị can chưa bị cơ quan điều tra, Viện kiểm sát áp dụng bất kỳ một biện pháp ngăn chặn nào hoặc đã bị áp dụng nhưng đến thời điểm vụ án đang do Toà án thụ lý thì biện pháp đó đã bị huỷ bỏ.
Toà án thay đổi biện pháp ngăn chặn là buộc người bị truy tố phải chịu một biện pháp cưỡng chế khác trong các biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 506 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng không phải là biện pháp mà cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đã áp dụng.
Toà án huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là trường hợp khi Toà án thụ lý hồ sơ, bị can đang bị áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn, nhưng Toà án ra quyết định huỷ bỏ biện pháp đó và không buộc bị can phải chịu bất kỳ một bỉệii pháp ngăn chặn nào khác.
4 Quy định về rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát
Đây là một trong các Quyết định của Viện kiểm sát trong thời hạn chuẩn bị xét xử
Điều 285 BLTTHS năm 2015 quy định Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.
Các quyết định trong thời gian chuẩn bị xét xử chủ yếu do Toà án thực hiện. Tuy nhiên, để bảo đảm việc truy tố đúng người đúng tội, nên Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định trong thời gian chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát cũng có thể ra một số quyết định như: quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra lại theo yêu cầu của toà án; quyết định rút quyết định truy tố; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung và một số quyết định khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự, thì sau khi Viện kiểm sát đã chuyển hồ sơ sang Toà án để chuẩn bị xét xử, nhưng xét thấy vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo. hoặc khi có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.
Việc Viện kiểm sát rút quyết định truy tố nhất thiết phải bằng văn bản gửi cho Toà án đang thụ lý vụ án, trong quyết định đó phải nêu rõ lý do rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, như các phần trên đã phân tích, thời gian chuẩn bị xét xử có hai giai đoạn: trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, do đó, nếu Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc đình chỉ vụ án sẽ do Thẩm phán ra quyết định, nếu việc rút quyết định truy tố sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc đình chỉ vụ án phải do Hội đồng xét xử quyết định, về nguyên tắc, Toà án phải chấp nhận việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát, tuy nhiên nếu không đồng ý với quyết định rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát thì Toà án có thể báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên.
5 Các quyết định khác của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử
Ngoài quyết định rút quyết định truy tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thì Viện kiểm sát còn có những quyết định khác chỉ có liên quan đến giai đoạn chuẩn bị xét xử chứ không nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Xét về nguyên tắc thì các quyết định này của Viện kiểm sát là những quyết định sau khi Toà án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát và như vậy hồ sơ vụ án lại trở về giai đoạn điều tra, truy tố. Tuy nhiên do có liên quan đến giai đoạn chuẩn bị xét xử, nên việc nghiên cứu nó là rất cần thiết. Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát có thể có một số quyết định như sau
Thứ nhất Quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
Sau khi nhận hồ sơ vụ án do Toà án quyết định trả để điềụ tra bổ sung, Viện kiểm sát phải nghiên cứu các yêu cầu điều tra bổ sung mà Toà án nêu trong quyết định trả hồ sơ, nếu thấy những vấn đề Toà án yêu cầu không thuộc thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát hoặc Viện kiểm sát không có khả năng thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để cơ quan điều tra bổ sung theo yêu cầu của Toà án. Trong quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra cũng cần phải nêu rõ lý do trả hồ sơ và nội dung những yêu cầu cần điều tra bổ sung như quyết định trả hồ sơ của Toà án cho Viện kiểm sát.
Thứ hai Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của VKS
Theo quy định tại điều 247 , 248 BLTTHS năm 2015 thì
Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp:
- Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố;
- Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
- Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết quả.
- Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.
Thứ ba Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.
Sau khi nhận lại hồ sơ vụ án do Toà án trả để truy tố lại hoặc để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát có quyền áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, nếu là riện pháp tạm giam thì thời hạn tạm giam không được quá 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc triệt nghiêm trọng. Trong trường hợp cần thiết Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thêm, nhưng cũng không được quá 10 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng; không.quá 15 ngày đối với tội rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội đặc biệt nghiêm trọng
Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê
Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!