Thưa luật sư. Xin luật sư cho biết lịch sử pháp luật hình sự nươc ta đã có ghi nhận như thế nào về "phạm nhiều tội"? Rất mong được luật sư giải đáp. Xin chân thành cảm ơn! (Mạnh Quân - Lâm Đồng)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Phạm nhiều tội là gì?

Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội phạm trở lên, mà những tội phạm đó được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nhưng người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội ấy.

Chế định nhiều tội phạm có 03 hình thức biểu hiện đó là: phạm nhiều tội, phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Phạm nhiều tội là một trong những hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm.

2. Cách hiểu phạm nhiều tội trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam

Một người có thể phạm một tội, nhưng cũng có thể phạm nhiều tội. Khi nào bị coi là phạm nhiều tội, điều đó cần phải có những tiêu chí nhất định để phân biệt. Tuy nhiên, vấn đề này cũng phụ thuộc vào nhận thức của con người về phạm nhiều tội như thế nào trong từng giai đoạn lịch sử và trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.

3. Phạm nhiều tội trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức)

Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Bộ luật chính thông của triều đại nhà Lê ở nước ta (1428- 1788) đã đề cập vấn đề phạm nhiều tội tại các Điều 426, Điều 427, Điều 428. Bộ luật chưa có quy phạm định nghĩa về phạm nhiều tội, nhưng đã thể hiện quan điểm trừng trị người phạm nhiều tội nặng hơn so với người phạm một tội. Điều 426 Bộ luật này quy định: “Những kẻ ăn cướp, thủ phạm thì xử chém, kẻ tòng phạm thì xử giảo; ngoài việc phải đền tang vật ăn cướp, điền sản phải sung công. Cướp của lại giết người, thì xử chém bêu đầu; tòng phạm xử chém; phải nộp tiền đền mạng và phải đền tiền tang vật gấp đôi trả cho nhà chủ bị cướp”.

4. Phạm nhiều tội trong Hoàng việt luật lệ

Trong Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), vấn đề phạm nhiều tội được đề cập ở Điều 20 - Đồ lưu nhân hựu phạm tội (Người mắc tội lưu, đồ lại phạm tội) quy định: “Phàm trước phạm tội đã phát hiện, pháp quan chưa xử để kết tội, rồi lại phạm tội khác, thì cũng như hai tội bị phát hiện. Luật không áp dụng hai hình phạt, chỉ áp dụng phạt nặng cho một trong hai tội”. Theo quy định này, trường hợp phạm nhiều tội tuy không bị áp dụng hai hình phạt nhưng bị xử phạt nặng hơn so với trường hợp phạm một tội.

5. Phạm nhiều tội trong Bộ hình luật An Nam

Trong Bộ hình luật An Nam xuất bản tại Sài Gòn năm 1962, khái niệm phạm nhiều tội được quy định tại Điều 61: “Khi nào một người phạm nhiều tội đại hình hoặc trừng trị mà vì các tội ấy phải bị truy cứu trong một lúc, gọi là nhiều tội đều phát”; nguyên tắc xử lý trường hợp phạm nhiều tội được quy định tại Điều 64: “Thuộc về tội đại hình hoặc trừng trị nhiều tội đều phát mà đích xác cả, theo như Điều 61 đã định thời chỉ lấy tội nặng hơn hết mà nghị xử, những người bị án phải chịu tất cả các khoản đền lại và thương tổn hại cho người bị thiệt hại”.

6. Quan điểm của giới luật gia

Dưới góc độ lý luận luật hình sự, ngay từ năm 1943, Tiến sĩ Lê Trung Chánh trong cuốn “Đại Nam hình pháp” đã đưa ra khái niệm phạm nhiều tội mà ông gọi là “lũy phạm” và phân biệt với khái niệm tái phạm như sau: “lũy phạm là phạm trong một thời gian nhiều tội, mà trong thời gian ấy chưa có án nào đã chung thẩm, đã thành bất canh cải rồi. Còn tái phạm là phạm tội đã có án chung thẩm rồi, đã thành bất canh cải rồi mà lại phạm một tội nữa”. Lý do cần phân bịệt “tái phạm” với “lũy phạm”: “Bởi vì một người đã phạm tội, đã có án chung thẩm rồi, thế mà không sợ, lại còn phạm tội nữa, vậy pháp luật phải trừng trị kẻ bị tội tái phạm nặng hơn kẻ bị tội lũy phạm, vì những kẻ bị tội lũy phạm chưa có lệnh tòa án quở trách và trừng phạt”.

Về quan điểm xử lý trong trường hợp phạm nhiều tội, Tiến sĩ Lê Trung Chánh đã đưa ra ba loại ý kiến khác nhau đã gây tranh luận trong giới luật gia thời bấy giờ:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, phải trừng phạt riêng từng tội, nghĩa là ai phạm 2, 3, 4... tội, thì bị phạt 2, 3, 4... hình phạt.

Theo quan điểm của ông Chánh, ý kiến này có hai điểm bất hợp lý: 1) làm như thế nhiều người bị khổ sai chung thân; 2) làm như thế trái với luân lý, ví dụ: một người bị giam ba năm và bị tội tử hình, không có lẽ bắt người đó giam ba năm trước khi thi hành tử hình.

Ý kiến thứ hai cho rằng, trường hợp phạm nhiều tội, mà chỉ phạt tội nặng nhất như luật hình phạm nhiều tội cũng không thống nhất trong một thời gian dài.

Vào đầu những năm 80, lần đầu tiên trong các sách báo pháp lý của nước ta xuất hiện danh từ phạm nhiều tội và khái niệm phạmj nhiều tội. Các tác giả của cuốn Hình luật xã hội chủ nghĩa do Trường cao đẳng kiểm sát xuất bản cho rằng: “Phạm nhiều tội là trường hợp một người phạm nhiều tội được nêu trong các điều luật khác nhau - tức không cùng một tội danh - mà trong thời gian phạm những tội ấy họ chưa bị xét xử và bị kết án một tội nào trong sô các tội ấy.

Trong khoa học luật hình sự thời gian này, các nhà luật học cũng chia phạm nhiều tội thành hai hình thức biểu hiện: thứ nhất, trường hợp một người thực hiện một hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó lại thỏa mãn các dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm khác nhau là “tổng hợp trừu tượng của phạm nhiều tội”; thứ hai, trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập là “tổng hợp thực tê của phạm nhiều tội”.

7. Phạm nhiều tội trong Bộ luật hình sự 1985, 1999, 2015 sửa đổi năm 2017

Ở nước ta, trong Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như Bộ luật hình sự năm 1999, khái niệm phạm nhiều tội vẫn chưa được nhà làm luật ghi nhận. Tại quy phạm “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội” (Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1985 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999), thuật ngữ “phạm nhiều tội” chỉ được nhà làm luật đề cập một lần là: “Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội...” và cũng không đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm phạm nhiều tội. Đó là một hạn chế về mặt lý luận và có ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức và áp dụng pháp luật vào thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.

8. Dấu hiệu đặc trưng của phạm nhiều tội:

Nghiên cứu về chế định phạm nhiều tội chúng ta thấy rằng, phạm nhiều tội có các dấu hiệu đặc trưng cơ bản khác với các hình thức phạm tội khác. Các dấu hiệu đó là:

- Xác định việc một người đã có lỗi trong việc thực hiện từ hai tội trở lên;

- Các hành vi phạm tội đã được quy định tại các điều khác nhau trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự;

- Người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội đó.

Như vậy, chỉ khi nào có đầy đủ ba dấu hiệu cơ bản đó trong một trường hợp phạm tội cụ thể, thì trường hợp đó mới được coi là phạm nhiều tội.

Ví dụ: Ngày 26-11-1997, L M đến nhà anh Th mượn chiếc xe Win 100 nói là để đi dự đám cưới người bạn ở Phủ Lý, Hà Nam. Nhưng sau khi mượn được xe, M đem xe đến hiệu cầm đồ đặt lấy 4.000.000đ để tiêu xài. Sau khi tiêu hết số tiền trên, M đi đến phố H, nhìn thấy 3 chiếc xe máy dựng trước cửa số nhà 31, trong nhà có mấy người đang nói chuyện, uống nước, không ai để ý đến xe. Đứng quan sát một lúc, thấy sơ hở, M dắt một chiếc xe Cup 81 đi đến địa điểm cách số nhà 31 khoảng 500m dừng lại và dùng tuốc nơ vít tháo đèn ra, rút cầu chì và tháo biển số ném vào bụi cây bên đường. Sau đó, M đem xe đi tiêu thụ và bị cảnh sát giao thông bắt giữ. Trong trường hợp này, hành vi do M thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của phạm nhiều tội: 1) M đã phạm hai tội: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản; 2) hai tội đó được quy định tại Điều 138, 139 Bộ luật hình sự năm 1999; 3) cả hai tội đó đều chưa bị Tòa án đưa ra xét xử.

Hiện nay, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đã nảy sinh vướng mắc đòi hỏi lý luận luật hình sự phải giải quyết, đó là: có phải là phạm nhiều tội hay không trường hợp các hành vi phạm tội do một chủ thể thực hiện được quy định trong các khoản khác nhau của một điều luật hay là chỉ coi là phạm nhiều tội những trường hợp khi các hành vi phạm tội do một chủ thể thực hiện được quy định trong các điều luật khác nhau ở Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Về vấn đề này, hiện nay trong sách báo pháp lý nước ta và nước ngoài có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất, chỉ coi là phạm nhiều tội trường hợp các hành vi phạm tội do một chủ thể thực hiện được quy định trong các điều khác nhau tại Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Quan điểm này cho rằng khi một chủ thể thực hiện hai hành vi phạm tội được quy định trong cùng một điều luật thì chỉ phạm một tội của điều luật đó mà thôi.

Quan điểm thứ hai cho rằng, phạm nhiều tội bao gồm cả các trường hợp mà hành vi phạm tội do một chủ thể thực hiện được quy định trong các điều luật khác nhau trong các khoản khác nhau của một điều luật thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Từ thực tiễn và lý luận khoa học hình sự, có thể nói rằng quan điểm thứ nhất không phù hợp với yêu cầu, nội dung thực tế của các điều luật quy định về tội phạm và không đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với trường hợp phạm nhiều tội. Khi một người thực hiện các hành vi phạm tội được quy định trong các khoản khác nhau của điều luật thuộc Phần các tội phạm Bộ luật hình sự thì cần phải được coi là trường hợp phạm nhiều tội. Đó là những trường hợp mà mỗi hành vi phạm tội trong số đó mang tính chất của một hành vi phạm tội độc lập và không thuộc khái niệm phạm tội nhiều lần. Chẳng hạn: một người lợi dụng chức vụ quyền hạn cản trở việc tố cáo của người khác, đồng thời có hành vì trả thù người tố cáo thì bị xét xử theo hai tội được quy định tại khoản 1 Điều 132 và tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật hình sự năm 1999 và hình phạt chung được quyết định trên cơ sở hình phạt đối vối từng tội đó. Bởi vì, hành vi “cản trở” và hành vi “trả thù” là hai hành vi độc lập với nhau và cấu thành hai tội phạm khác nhau. Do đó quan điểm thứ hai phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống các trường hợp phạm nhiều tội.

Từ sự phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm phạm nhiều tội như sau: Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội phạm trở lên, mà những tội phạm đó được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nhưng người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội ấy.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & Biên tập