Đến khi về hưu là cuối năm mẹ còn thiếu 01 năm 01 tháng nên đóng thêm cho đủ 20 năm. Tại sao trong cách tính lương bình quân lại là lấy tổng bình quân của 240 tháng (20 năm) nên lương mẹ em chỉ có 770.494 nghìn đồng. Cho em hỏi lương bình quân tính thế có đúng với quy định hiện hành hay không? (em có gửi file đính kèm).
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao độngcủa công ty Luật Minh Khuê.
>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162
Trả lời:
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:
Căn cứ pháp lý:
- Bộ luật Lao động năm 2019
- Nghị định 152/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Nghị định 66/2013/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
1. Mức lương hưu như trên đã đúng theo quy định của pháp luật chưa?
Điều 52 Luật bảo hiểm xã hội quy định:
"1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
2. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
3. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung."
Mặt khác, Điều 3 Nghị định 66/2013/NĐ-CP quy định về mức lương cơ sở:
"1. Mức lương cơ sở dùng làm căn cứ:
a) Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này;
b) Tính mức hoạt động phí theo quy định của pháp luật;
c) Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
2. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng.
3. Mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước."
Điều 31 Nghị định 152/2006/NĐ-CP quy định về mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động theo Điều 58, 59 và Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
"1. Đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995:
a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân các mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.
b) Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
c) Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian đó. Trong đó thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm a khoản này. Trường hợp chưa đủ 5 năm, thì tính bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
2. Đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2007:
a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
- Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu.
b) Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian;
c) Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian đó. Trong đó thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm a khoản này. Trường hợp chưa đủ số năm quy định tại điểm a khoản này thì tính bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
3. Đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 trở đi:
a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
b) Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian;
c) Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian đó. Trong đó thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm a khoản này. Trường hợp chưa đủ 10 năm thì tính bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội."
Vì đến năm 2010 trường mầm non nơi mẹ bạn làm việc mới được vào công lập nên thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính từ năm 2010, còn từ năm 1995 đến năm 2010 được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định. Do đó, việc tính mức tiền bình quân tiền lương để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với trường hợp của mẹ bạn được thực hiện theo quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 31 Nghị định 152/2006/NĐ-CP:
Tổng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội = mức bình quân tiền lương của toàn bộ thời gian từ 1995 đến 2010 + mức bình quân tiền lương từ 2010 đến 2015 = tổng mức bình quân của 240 tháng nhưng phải đảm bảo mức lương hưu hằng tháng phải lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu chung (1.150.000 đồng/tháng).
Như vậy, vì lương hưu của mẹ bạn tính theo mức bình quân tiền lương hằng tháng đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn mức lương tối thiểu chung nên mức lương hưu mẹ bạn được hưởng trong trường hợp này ít nhất phải là 1.150.000 đồng/tháng.
2. Giải pháp giải quyết vấn đề lương hưu thấp hơn mức lương tối thiểu chung?
Trường hợp trên nếu quyết định hưởng hưu trí của mẹ bạn được hưởng mức mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì mẹ bạn nên làm đơn khiếu nại gửi lên cơ quan BHXH đã ra quyết định để đề nghị cơ quan BHXH xem xét lại mức lương hưu của mẹ bạn.
Căn cứ khiếu nại:
Luật Khiếu nại năm 2011;
Luật BHXH năm 2006.
3. Quy định mới về tuổi nghỉ hưu từ năm 2021
3.1 Độ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường:
Căn cứ Điều 4 Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường theo khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 quy định cụ thể như sau:
- Kể từ 01/1/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam; đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ.
- Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035.
Theo đó, lộ trình tuổi nghỉ hưu của người lao động được thực hiện theo bảng dưới đây:
| Lao động nam | Lao động nữ | ||
| Năm nghỉ hưu | Tuổi nghỉ hưu | Năm nghỉ hưu | Tuổi nghỉ hưu |
| 2021 | 60 tuổi 03 tháng | 2021 | 55 tuổi 04 tháng |
| 2022 | 60 tuổi 06 tháng | 2022 | 55 tuổi 08 tháng |
| 2023 | 60 tuổi 09 tháng | 2023 | 56 tuổi |
| 2024 | 61 tuổi | 2024 | 56 tuổi 04 tháng |
| 2025 | 61 tuổi 03 tháng | 2025 | 56 tuổi 08 tháng |
| 2026 | 61 tuổi 06 tháng | 2026 | 57 tuổi |
| 2027 | 61 tuổi 09 tháng | 2027 | 57 tuổi 04 tháng |
| Từ năm 2028 trở đi | 62 tuổi | 2028 | 57 tuổi 08 tháng |
| 2029 | 58 tuổi | ||
| 2030 | 58 tuổi 04 tháng | ||
| 2031 | 58 tuổi 08 tháng | ||
| 2032 | 59 tuổi | ||
| 2033 | 59 tuổi 04 tháng | ||
| 2034 | 59 tuổi 08 tháng | ||
| Từ năm 2035 trở đi | 60 tuổi | ||
3.2 Bốn trường hợp được nghỉ hưu sớm từ 01/1/2021
Khoản 1 Điều 5 Nghị định chỉ rõ các trường hợp nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Cụ thể, người lao động thuộc một trong 04 trường hợp dưới đây có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu thông thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:
1. Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành.
2. Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/1/2021;
3. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;
4. Người lao động có tổng thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành và thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/1/2021) từ đủ 15 năm trở lên.
Theo đó, tuổi nghỉ hưu thấp nhất của người lao động được thực hiện theo bảng dưới đây:
| Lao động nam | Lao động nữ | ||
| Năm nghỉ hưu | Tuổi nghỉ hưu thấp nhất | Năm nghỉ hưu | Tuổi nghỉ hưu thấp nhất |
| 2021 | 55 tuổi 03 tháng | 2021 | 50 tuổi 04 tháng |
| 2022 | 55 tuổi 06 tháng | 2022 | 50 tuổi 08 tháng |
| 2023 | 55 tuổi 09 tháng | 2023 | 51 tuổi |
| 2024 | 56 tuổi | 2024 | 51 tuổi 04 tháng |
| 2025 | 56 tuổi 03 tháng | 2025 | 51 tuổi 08 tháng |
| 2026 | 56 tuổi 06 tháng | 2026 | 52 tuổi |
| 2027 | 56 tuổi 09 tháng | 2027 | 52 tuổi 04 tháng |
| 2028 | 57 tuổi | 2028 | 52 tuổi 08 tháng |
| 2029 | 53 tuổi | ||
| 2030 | 53 tuổi 04 tháng | ||
| 2031 | 53 tuổi 08 tháng | ||
| 2032 | 54 tuổi | ||
| 2033 | 54 tuổi 04 tháng | ||
| 2034 | 54 tuổi 08 tháng | ||
| Từ 2035 trở đi | 55 tuổi | ||
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty Luật Minh Khuê.
Trân trọng ./.
Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê