1. Khái quát về tuổi nghỉ hưu và cách tính tuổi nghỉ hưu
Tuổi nghỉ hưu, còn được gọi là tuổi hưu trí, là độ tuổi mà người lao động có đủ điều kiện theo quy định pháp luật để nhận trợ cấp hưu trí đầy đủ khi rời khỏi độ tuổi lao động quy định. Nói cách khác, nghỉ hưu là việc người lao động được phép nghỉ công việc hiện tại của mình khi đạt đến độ tuổi và điều kiện sức khỏe nhất định được quy định bởi pháp luật, mà sau đó họ không cần phải làm việc nữa. Khi đến tuổi nghỉ hưu, người lao động đang làm công việc được quy định bởi pháp luật sẽ phải chấm dứt hợp đồng, chấm dứt làm việc để dành thời gian an dưỡng tuổi già.
Độ tuổi nghỉ hưu của nam và nữ được quy định khác nhau ở mỗi thời điểm trong Bộ Luật Lao động hiện hành. Sự khác biệt này phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội, thể chất, sức khỏe trung bình của cả nam và nữ trong xã hội, và được điều chỉnh theo thời gian.
Theo quy định của Bộ Luật lao động 2019, cách tính tuổi nghỉ hưu tính từ năm 2021 được chỉ định như sau:
Đối với người lao động trong tình trạng lao động bình thường, tuổi nghỉ hưu sẽ được điều chỉnh theo kế hoạch, cho đến khi đạt 62 tuổi đối với nam giới vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ giới vào năm 2035. Bắt đầu từ năm 2021, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động trong tình trạng lao động bình thường là 60 tuổi 03 tháng đối với nam giới và 55 tuổi 04 tháng đối với nữ giới. Sau đó, mỗi năm sẽ tăng thêm 03 tháng đối với nam giới và 04 tháng đối với nữ giới.
Do đó, nếu vào năm 2021, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam giới và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ giới, thì vào thời điểm năm 2022, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường sẽ đạt đủ 60 tuổi 06 tháng đối với nam giới và 55 tuổi 08 tháng đối với nữ giới; năm 2023 là 60 tuổi 9 tháng đối với nam giới và 56 tuổi đối với nữ giới.
Tuổi nghỉ hưu thấp nhất trong điều kiện lao động bình thường, theo Nghị định 135/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu sẽ được thực hiện theo lộ trình sau:

2. Quy định về tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một hình thức bảo hiểm xã hội được Nhà nước tổ chức, cho phép người tham gia lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm để người tham gia có thể hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Việc tham gia loại hình bảo hiểm này là hoàn toàn tự nguyện, người lao động có thể quyết định tham gia hoặc không.
Theo khoản 4 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, công dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Danh sách những người có thể tham gia bao gồm: người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng trước ngày 01/01/2018 hoặc có thời hạn dưới 1 tháng từ ngày 01/01/2018 trở đi; người hoạt động không chuyên trách ở các địa phương như thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu, khu phố; người giúp việc gia đình; người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương; xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; người nông dân, người tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; và những người tham gia khác.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật bảo hiểm xã hội 2014, có hai chế độ chính là hưu trí và tử tuất. Do đó, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ được hưởng hai chế độ này.
So với chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ hưởng ít quyền lợi hơn vì không được bao gồm các chế độ ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động.
Tuy nhiên, trong trường hợp muốn nhận lương hưu khi về già để có sự ổn định kinh tế, người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn nên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
3. Điều kiện hưởng lương hưu khi tham gia BHXH tự nguyện
Theo Điều 73 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, được sửa đổi bởi Điểm c, Khoản 1, Điều 219 của Bộ luật Lao động 2019, người tham gia BHXH tự nguyện có thể được hưởng lương hưu khi thỏa mãn hai điều kiện sau đây: đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 2, Điều 169 của Bộ luật Lao động và đã đóng bảo hiểm xã hội trong ít nhất 20 năm trở lên.
Theo quy định của pháp luật, trong năm 2023, độ tuổi nghỉ hưu theo điều kiện bình thường là 60 tuổi 9 tháng đối với nam và 56 tuổi đối với nữ. Trong trường hợp người lao động đã đủ điều kiện về tuổi nhưng thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm, họ có thể tiếp tục đóng đến khi đủ 20 năm để có thể hưởng lương hưu.
Vì vậy, để được hưởng lương hưu khi tham gia BHXH tự nguyện trong năm 2023, nam giới cần đủ 60 tuổi 9 tháng và đã đóng BHXH ít nhất 20 năm, trong khi phụ nữ cần đủ 56 tuổi và đã đóng BHXH ít nhất 20 năm thì sẽ đủ điều kiện để hưởng lương hưu..
4. Cách tính lương hưu cho người tham gia BHXH tự nguyện
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 134/2015/NĐ-CP, mức hưởng lương hưu hàng tháng của người tham gia BHXH tự nguyện, được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng nhân với mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Theo đó, mức lương hưu hàng tháng của người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ được tính theo công thức:
| Mức lương hưu hàng tháng | = | Tỷ lệ hưởng lương hưu | x | Mức bình quân thu nhập tháng đóng Bảo hiểm xã hội |
Tỷ lệ hưởng lương hưu được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 134/2015/NĐ-CP. Với lao động nữ, tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2%, tối đa là 75%. Với lao động nam, tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội nếu nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội được tính thêm 2%, tối đa là 75%.
Mức bình quân thu nhập tháng đóng Bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể tại Điều 4 Nghị định 134/2015/NĐ-CP. Mức bình quân thu nhập tháng đóng Bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đã đóng Bảo hiểm xã hội trong suốt thời gian đóng. Thu nhập tháng đã đóng Bảo hiểm xã hội để tính mức bình quân thu nhập tháng đóng Bảo hiểm xã hội được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm do Tổng cục Thống kê công bố hàng năm.
Với những người tham gia Bảo hiểm xã hội trong 19 năm đầu, họ sẽ được hưởng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng Bảo hiểm xã hội. Từ năm thứ 20 đến năm thứ 24, mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội sẽ được tính thêm 2%, tương ứng với 5 năm được hưởng thêm 10%. Tổng cộng, 02 tỷ lệ này là 45% + 10% = 55% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Hướng dẫn cách tính lương hưu theo đúng quy định của pháp luật?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Cách tính lương hưu cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.