1. Khái niệm và cơ sở pháp lý tính thuế tài nguyên
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định một cách cụ thể về khái niệm thuế tài nguyên. Tuy nhiên, thuế tài nguyên có thể được hiểu là một loại thuế gián thu mà các cá nhân, tổ chức phải nộp cho nhà nước khi tiến hành khai thác các tài nguyên thiên nhiên. Thuế này được áp dụng với mục đích nhằm quản lý và điều tiết hoạt động khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Khi cá nhân hay tổ chức khai thác tài nguyên như khoáng sản, dầu khí, gỗ, hay các tài nguyên khác từ tự nhiên, họ sẽ phải nộp một khoản thuế nhất định theo tỷ lệ quy định. Đây là một hình thức thuế quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.
Cơ sở pháp lý để tính thuế tài nguyên khai thác đá làm vật liệu xây dựng được quy định trong Thông tư số 152/2015/TT-BTC. Thông tư này cung cấp hướng dẫn chi tiết về các đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, các chính sách miễn giảm thuế tài nguyên, cũng như tổ chức thực hiện theo các quy định của Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ. Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 và một số điều của Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế.
Đối với các tài nguyên như dầu thô, khí thiên nhiên, và khí than, các quy định cụ thể sẽ được Bộ Tài chính hướng dẫn riêng biệt.
Theo Thông tư này, đối tượng chịu thuế tài nguyên bao gồm các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, các đối tượng chịu thuế bao gồm:
1. Khoáng sản kim loại.
2. Khoáng sản không kim loại.
3. Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và sản phẩm khác của rừng tự nhiên, nhưng không bao gồm động vật cũng như hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ.
4. Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển.
5. Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, ngoại trừ nước dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy.
Nước biển dùng để làm mát máy phải tuân thủ các yêu cầu về môi trường, hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và các điều kiện kỹ thuật chuyên ngành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Nếu việc sử dụng nước biển gây ô nhiễm hoặc không đạt các tiêu chuẩn về môi trường, thì việc xử lý sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
6. Yến sào thiên nhiên, trừ yến sào thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác. Yến sào thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 35/2013/TT-BNNPTNT ngày 22/7/2013 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
7. Các tài nguyên thiên nhiên khác sẽ do Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định.
2. Đối tượng chịu thuế tài nguyên khai thác đá làm vật liệu xây dựng
Đối tượng chịu thuế tài nguyên được quy định tại Điều 2 của Luật Thuế tài nguyên năm 2009 bao gồm một loạt các tài nguyên thiên nhiên quan trọng. Cụ thể, các đối tượng này bao gồm khoáng sản kim loại và khoáng sản không kim loại, hai loại khoáng sản chính được khai thác để phục vụ nhu cầu công nghiệp và xây dựng. Ngoài ra, dầu thô và khí thiên nhiên, khí than cũng nằm trong danh sách chịu thuế, bởi đây là những tài nguyên năng lượng thiết yếu cho sự phát triển kinh tế.
Thêm vào đó, sản phẩm của rừng tự nhiên, với điều kiện là không bao gồm động vật, cũng thuộc đối tượng chịu thuế. Hải sản tự nhiên, bao gồm cả động vật và thực vật biển, cũng được đưa vào danh sách đối tượng chịu thuế nhằm quản lý tài nguyên biển một cách bền vững. Nước thiên nhiên, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất, cũng là một đối tượng chịu thuế quan trọng vì tầm ảnh hưởng của nó đối với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Yến sào thiên nhiên, được coi là tài nguyên quý giá, cũng nằm trong diện chịu thuế. Cuối cùng, các tài nguyên khác sẽ được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể, nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và hiệu quả.
3. Cơ sở tính thuế tài nguyên khai thác đá làm vật liệu xây dựng?
Tổng cục Thuế lưu ý rằng việc kê khai và xác định thuế tài nguyên đối với đá khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường cần tuân thủ các quy định sau đây. Trước tiên, việc kê khai và nộp thuế tài nguyên phải được thực hiện hàng tháng, và hạn chót để hoàn tất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019 và điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Về giá tính thuế, giá của từng loại đá sẽ được xác định ở giai đoạn nào thì sản lượng đá tính thuế tài nguyên cũng phải áp dụng theo mức giá đó để kê khai và nộp thuế cho tháng, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 50/2010/NĐ-CP. Đặc biệt, giá tính thuế đơn vị tài nguyên là giá bán của từng loại đá có cùng phẩm cấp và chất lượng, chưa bao gồm thuế GTGT, được áp dụng để tính thuế cho toàn bộ sản lượng đá khai thác trong tháng, theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC. Đối với đá làm vật liệu xây dựng thông thường thu được từ hoạt động xay, nghiền sau khai thác, giá tính thuế đơn vị tài nguyên phải được xác định theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC. Nếu giá tính thuế đơn vị tài nguyên do doanh nghiệp tự xác định thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định, thì giá do UBND cấp tỉnh đưa ra sẽ được áp dụng để kê khai và nộp thuế tài nguyên, theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên và điểm c khoản 3 Điều 6 Thông tư 152/2015/TT-BTC.
Căn cứ xác định sản lượng tài nguyên để tính thuế được quy định tại Điều 5 của Luật Thuế tài nguyên nêu rõ các phương pháp tính toán tùy thuộc vào đặc điểm của tài nguyên khai thác. Đối với tài nguyên có thể xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng, sản lượng tài nguyên tính thuế chính là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác trong kỳ tính thuế. Trong trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất tạp khác nhau, sản lượng tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất sau khi đã qua sàng tuyển, phân loại. Đối với tài nguyên không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác, nếu không thể trực tiếp xác định số lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác, sản lượng tính thuế sẽ được tính dựa trên sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ và định mức sử dụng tài nguyên tính trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Theo hướng dẫn tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 152/2015/TT-BTC, sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định dựa trên số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác và sẽ được điều chỉnh dựa trên các cấp độ chất lượng và giá trị thương mại của từng loại tài nguyên. Nếu tài nguyên khai thác được phân loại thành nhiều loại khác nhau, sản lượng tính thuế sẽ dựa vào sản lượng của loại tài nguyên có giá trị thương mại cao nhất hoặc quy đổi sang sản lượng của loại đá bán ra lớn nhất.
Giá tính thuế tài nguyên, theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên và các quy định trong Nghị định số 50/2010/NĐ-CP, được xác định là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên chưa bao gồm thuế GTGT. Tuy nhiên, giá này không được thấp hơn mức giá do UBND cấp tỉnh quy định. Theo Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC, giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị của sản phẩm tài nguyên có cùng phẩm cấp và chất lượng, chưa bao gồm thuế GTGT. Trong trường hợp giá bán đơn vị tài nguyên thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định, cơ sở sản xuất phải áp dụng giá do UBND cấp tỉnh quy định để tính thuế. Đối với đá khai thác, nếu một phần đá được bán ra ngay sau khi khai thác và phần còn lại được chế biến thành đá các ly để bán ra, giá tính thuế tài nguyên sẽ là giá bán đơn vị của đá xô bồ, hoặc giá tính thuế theo quy định của UBND cấp tỉnh nếu thấp hơn. Giá bán đơn vị đá xô bồ được tính bằng tổng doanh thu bán đá xô bồ (chưa có thuế GTGT) chia cho tổng sản lượng đá xô bồ bán ra trong tháng.
Xem thêm bài viết: Xác định sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế tài nguyên?
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.