Thưa Luật Minh Khuê tôi có một vấn đề xin được công ty tư vấn, hỗ trợ như sau: Công ty tôi là Công ty may mặc một thành viên X hoạt động chủ yếu trong thị trường nội địa, đã ký được một hợp đồng gia công xuất khẩu sang Mỹ, tuy nhiên, khách hàng giữa chừng đã hủy đơn đặt hàng do tình hình trở ngại, doanh nghiệp rơi vào tình trạng bế tách không biết tìm cách nào để thanh toán công nợ với nhà cung ứng với công nhân. Vậy cho tôi hỏi:
- Cách xác định các loại tài sản trong công ty
- Xác định các nguồn vốn có thể tài trợ cho hoạt động của công ty
Rất mong nhận được sự hỗ trợ của quý công ty. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Xác định các loại tài sản trong công ty

1.1 Tài sản ngắn hạn

Là những tài sản có giá trị thấp, thời gian sử dụng ngắn trong vòng 12 tháng hoặc 1 chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp và thường xuyên thay đổi hình thái giá trị trong quá trình sử dụng. Trong Doanh nghiệp tài sản ngắn hạn bao gồm:

- Tiền và những khoản tương đương tiền: gồm Tiền mặt (tiền Việt Nam, ngoại tệ), tiền gửi ngân hàng, kho bạc, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền(giá trị các loại chứng khoáncó thời gian đáo hạn trong vòng 3 tháng, vàng, bạc, đá qu‎‎‎y, kim khí)

- Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài với mục đích kiếm lời có thời gian thu hồi trong vòng 1 như: góp vốn liên doanh ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

- Các khoản phải thu ngắn hạn: là bộ phận tài sản của Doanh nghiệp nhưng đang bị các cá nhân hoặc đơn vị khác chiếm dụng một cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp và Doanh nghiệp phải có trách nhiệm thu hồi về trong vòng 12 tháng bao gồm : các khoản phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, trả trước cho người bán, phải thu về thuế Giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ…

- Hàng tồn kho : là bộ phận tài sản của Doanh nghiệp đang trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc được chờ để bán, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của Doanh nghiệp, gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá và hàng gửi đi bán.

- Tài sản ngắn hạn khác: là toàn bộ những tài sản còn lại ngoài những tài sản kể trên bao gồm: các khoản kí quỹ, kí cược ngắn hạn, các khỏan ứng trước, các khoản chi phí trả trước ngắn hạn.

1.2 Tài sản dài hạn

Là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kỳ kinh doanh) và ít khi thay đổi hình thái giá trị trong quá trình kinh doanh. Tài sản dài hạn bao gồm:

- Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài (>1năm), tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong quá trình sử dụng bị hao mòn dần. Tài sản cố định phải đảm bảo đủ các điều kiện theo luật định mới được công nhận là Tài sản cố định. Tài sản cố định gồm có 02 loại :

  • Tài sản cố định hữu hình
  • Tài sản cố định vô hình 

- Đầu tư tài chính dài hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài với mục đích kiếm lời có thời gian thu hồi trong vòng 1 trở lên, như: đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, góp vốn liên doanh dài hạn, cho vay dài hạn.

- Các khoản phải thu dài hạn: Là lợi ích của đơn vị hiện đang bị các đối tượng khác tạm thời chiếm dụng, có thời hạn thu hồi trên 1 năm, như: phải thu khách hàng dài hạn, trả trước dài hạn cho người bán…

- Bất động sản đầu tư: bao gồm nhà, đất đầu tư vì mục đích kiếm lời: Là giá trị của toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà hoặc 1 phần của đất, nhà do DN nắm giữ với mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất kinh doanh hoặc để bán trong chu kì kinh doanh bình thường của Doanh nghiệp.

- Tài sản dài hạn khác: là giá trị các tài sản ngoài các tài sản kể trên và có thời gian thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm như: chi phí trả trước dài hạn, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang và ký cược, ký quỹ dài hạn.

2. Xác định nguồn vốn có thể tài trợ cho hoạt động của công ty

2.1 Vốn góp ban đầu

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu tư một số vốn nhất định . Trong thực tế , vốn tự có của chủ doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với vốn pháp định , nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh. Đây được coi là nguồn tài trợ chủ động nhất, không bị phụ thuộc vào bên ngoài , không phải chịu lãi suất hay hoàn trả ngay. Tuy nhiên nguồn tài trợ này nguồn vốn tự có này không lớn.

2.2 Huy động vốn từ lợi nhuận không chia

Lợi nhuận không chia là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp, được tích luỹ lại để tái đầu tư. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần. Các cổ đông không được cổ tức nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.

Hình thức tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia có ưu điểm là nó tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo. Đồng thời giúp doanh nghiệp tự chủ trong vấn đề tài chính, dễ dàng hơn trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng, tổ chức tín dụng và các cổ đông. Tuy nhiên, nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại có nhược điểm là gây mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nhà quản lý và cổ đông, giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu và thời gian đầu. Khi doanh nghiệp trong trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp.

2.3 Huy động vốn bằng tín dụng ngân hàng

Tín dụng Ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ngân hàng, 80% lượng vốn cung ứng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là từ kênh Ngân hàng. Các doanh nghiệp sử dụng vốn vay Ngân hàng để đầu tư vào tài sản cố định, bổ sung thêm vốn lưu động và phục vụ các dự án. Trong trường hợp này các ngân hàng sẽ xem xét tính lại tỷ lệ lỗ của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu trên tổng vốn điều lệ. Nếu doanh nghiệp lỗ đến hơn 50% vốn điều lệ thì sẽ rất khó có ngân hàng nào dám cho vay vì khả năng doanh nghiệp phá sản là khá cao.Tuy nhiên, nếu khoản lỗ nằm trong mức 5- 10% vốn điều lệ, đồng thời tình hình tài chính tổng thể vẫn tốt thì ngân hàng sẽ tiến hành cho vay bình thường.

2.4 Huy động vốn bằng tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp. Nguồn vốn này được hình thành tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.

Lúc này, công ty bạn có thể thỏa thuận với các công ty cung cấp nguyên vật liệu cho công ty bạn rằng công ty bạn tạm thời mua chịu các sản phẩm đó (tức là công ty bạn chưa thanh toán số tiền mua nguyên vật liệu đó ngay) và sẽ thanh toán sau một khoảng thời gian nhất định.

Điều này sẽ giúp công ty bạn có thêm thời gian để giải quyết vấn đề hang tồn kho và tiền lương đối với người lao động.

2.5 Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu

Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Người phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ).

Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh). Công ty may mặc 1 thành viên X có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn của doanh nghiệp nếu công ty X có đủ điều kiện để phát hành trái phiếu ra công chúng theo khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán, cụ thể:

“2. Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;

c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;

d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.”

2.6 Các hình thức huy động vốn khác

- Vay theo hạn mức tín dụng:

Hạn mức tín dụng là một hạn mức vay do ngân hàng và khách hàng thoả thuận trước với nhau mà khi khách hàng có nhu cầu vay nằm trong hạn mức này thì ngân hàng không cần phải thẩm định , khách hàng cũng không phải thế chấp .Và cũng trong hạn mức tín dụng công ty có thể rút hoặc chi tiền vượt quá số dư trên tài khoản. Hạn mức tín dụng được xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ xung của doanh nghiệp và mức cho vay tối đa mà ngân hàng có thể chấp nhận ngoài ra nó còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng và dự hiểu biết tin tưởng giữa hai bên.

- Thư tín dụng :

Thư tín dụng là một bản cam kết trả tiền được sử dụng trong nhập khẩu hàng hoá. Khi nhà nhập khẩu hàng hoá không có tiền trên tài khoản thì có thể đề nghị ngân hàng cung cấp tín dụng để mua hàng từ một nhà xuất khẩu nước ngoài dưới hình thức mở thư tín dụng đảm bảo việc trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng phục vụ bên bán. Khi nhận được thông báo của ngân hàng phục vụ mình là đã có thư rín dụng thì hàng hoá của nhà xuất khẩu được chuyển đi , còn việc thanh toán sẽ là của ngân hàng phục vụ bên mua và bên bán.

- Cho vay theo hợp đồng :

Trong trường hợp này ngân hàng sẽ cho vay theo các hợp đồng được ký kết giữa công ty và khách hàng về sản xuất gia công .Hình thức cho vay này tỏ ra tương đối phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ.

- Cho vay có đảm bảo :

Cho vay có bảo đảm có ba hình thức là tạo vốn bằng cách bán nợ ,vay ngắn hạn bằng cách thế chấp khoản phải thu ,vay thế chấp bằng hàng hoá và chiết khấu thương phiếu.

- Tạo vốn bằng cách bán nợ :Công ty có thể gia tăng nguồn vốn ngắn hạn của mình bằng cách bán những khoản nợ mà các tác nhân kinh tế khác nợ mình,các tổ chức mua nợ thường là một ngân hàng, một công ty tài chính hay một công ty mua nợ,lúc đó sẽ phát sinh một quan hệ kinh tế của người nợ cũ và chủ nợ mới là bên mua nợ ,bên mua nợ sẽ căn cứ vào chứng từ để thu hồi nợ. Những khoản nợ được mua cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ khó đòi .

- Vay ngắn hạn bằng cách thế chấp khoản phải thu: theo phương thức này công ty có thể đem các hoá đơn thu tiền để làm vật bảo đảm cho các khoản vay.Số tiền mà các ngân hàng cho vay tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của các hoá đơn thu tiền nhưng thông thường tỉ lệ giá trị cho vay chiếm khoảng 30-90% giá trị danh nghĩa của hoá đơn thu tiền.

- Vay thế chấp bằng hàng hoá:cũng tương tự như các hoá đơn thu tiền hàng hoá cũng có thể được mang ra thế chấp bảo đảm cho những khoản vay ngắn hạn.Số tiền mà ngân hàng cho vay không chỉ phụ thuộc vào giá trị thực của hàng hoá thế chấp mà còn phụ thuộc vào tính chất chuyển đổi của hàng hoá thành tiền và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hoá đó.Hàng hoá dễ vận chuyển và hàng hoá có giám định chất lượng thì độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cho vay với tỉ lệ thấp so với giá trị của hàng hoá đem thế chấp .

- Chiết khấu thương phiếu:là nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho khách hàng được quyền sử dụng cho đến kỳ hạn của thương phiếu một khoản tiền của thương phiếu sau khi đã trừ khoản lãi phải thu , tức tiền chiết khấu và các khoản chi phí chiết khấu.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê