Số thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB X Thuế suất

Trong thực tiễn, do một số chủ thể kinh doanh không có đăng kí kinh doanh; hoặc không thuộc diện phải đăng kí kinh doanh; hoặc không thực hiện chế độ hoá đơn chứng từ, hoặc có thực hiện nhưng chỉ mang tính hình thức... pháp hiật cho phép cớ quan thuế có quyền khoán số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp vằo ngân sách nhà nước. Để xác định số thuế khoán, chi cục thuế trực tiếp quản lí người nộp thuế phải phối hợp với các cơ quan hữu quan ở địa phương nơi người nộp thuế thực hiện sản xuất kinh doanh mặt hàng, dịch vụ chịu thuế xác định tính đúng đắn, trung thực của hồ sơ khai thuế và từ đó đưa ra số thuế khoán. Đổ đảm bảo việc xác định số thuế khoán được công bằng, trước khi thông báo số thuế mà người nộp thuế phải nộp, chi cục thuế phải công khai các số liệu dự kiến có liên quan tới việc xác định số thuế khoán đó để lấy ý kiến của người nộp thuế.

1. Quản lý, giám sát việc khai thuế, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

- Khai thuế tiêu thụ đặc tiệt

Việc khai thuế được pháp luật quy định có phân biệt giữa chủ thể nộp thuế theo phương pháp người nộp thuế tự tính thuế (cách tính theo quy định tại Điều 5 Luật thuế tiêú thụ đặc biệt năm 2008), với chủ thể nộp thuế theo phương pháp khoán.

- Khai thuế trong trường hợp người nộp thuế tự tính thuế:

Chủ thể nộp thuế tiêu thụ đặc biệt có nghĩa vụ khai thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp hồ sơ khai thuế theo tháng. Hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được mua để xuất khẩu nhưng thực tể không xuất khẩu mà được tiêu thụ trong nước và hàng hoá nhập khẩu thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải khai theo từng lần phát sinh.

Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật quy định có phân biệt giữa hàng hoá/dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hoá xuất, nhập khẩụ. Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước gồm: (1) Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt; (2) bàng kê hoá đơn bán hàng, dịch vụ chịu thuế; và (3) bảng kê thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ (nếu có). Toàn bộ tờ khai và bảng kê nói trên đều được lập theo mẫu. Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu là hồ sơ hải quan.

Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đậc biệt phải được nộp tới cơ quan thuế quản lí trực tiếp của người nộp thuế. Trường hợp người nộp thuế bán hàng qua chi nhánh, cửa hàng, đơn vị trực thuộc hoặc qua đại lí bán đúng giá, xuất hàng bán kí gửi (gọi chung là các tổ chức bán hộ), các tổ chức bán hộ không phải khai thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng khi gửi bảng kê bán hàng tới người nộp thuế thì phải gửi đồng thời một bản cho cơ quan quản lí thuế trực tiếp của mình để theo dõi.

- Khai thuế trong trường hợp nộp thuế theo phương pháp khoán:

Các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh không có đăng kí kinh doanh hoặc không thực hiện đăng kí kinh doanh hoặc không thực hiện chế độ hoá đơn, chứng từ hoặc những chủ thể rơi vào trường hợp luật định phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo phương pháp khoán, sẽ nộp hồ sơ khai thuế khoán một lần trong một năm, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 của năm trước. Hồ sơ khai thuế khoán được nộp cho chi cục thuế địa phương, nơi diễn ra hoạt động sản xuất, kinh doanh chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

2. Nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Người nộp thuế có nghiã vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách nhà nước. Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nếu người nộp thuế tự tính thuế. Nếu cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định số thuế phải nộp, thì thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế.

Người nộp thuế có thể được gia hạn nộp thuế nếu gặp phải khó khăn khách quan, gây thiệt hại vật chất và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh; hoặc gặp phải những khó khăn đặc biệt khác theo quy định của pháp luật. Để được gia hạn nộp thuế, người nộp thuế phải gửi hồ sơ gia hạn nộp thuế tới cơ quan quản lí thuế trực tiếp và phải có quyết định gia hạn nộp thuế của cơ quan này.

3. Quản lý hoá đơn, chứng từ trong quá trình thu, nộp thuế tiêu thụ dặc biệt

3.1 Vai trò của quản lý hoá đơn, chứng từ

Hoá đơn, chứng từ mua bán, nhập khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cơ sở kinh doanh trong hoạt động kế toán, kiểm toán mà còn đối với cả Nhà nước trong việc xác định đúng, đủ nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh đối với ngân sách nhà nước. Vì vậy, một trong những yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh địch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là phải thực hiện đúng chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ khi mua, bán hàng hoá, kinh doanh dịch vụ và vận chuyển hàng hoá theo quy định của pháp luật. Công tác quản lí hoá đơn, chứng từ do đố có những ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả quản lí thu thuế tiêu thụ đặc biệt:

Thứ nhất, quản lí tốt hoá.đơn, chứng từ sẽ tạo cơ sở để xác dịnh chính xác giá bán hàng hoá, dịch vụ, một trong những yếu tố cần thiết để xác định giá tính thuế và từ đó có căn cứ để tính số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính thuế cũng như cho hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế của các cơ quan thuế, pháp luật quy định: cơ sở sản xuất khi bán hàng, giao hàng cho các chi nhánh, cơ sở phụ thuộc, đại lí đều phải sử dụng hoá đơn. Mặt khác, cơ quan thuế có quyền yêu cầu các đổi tượng nộp thuế cung cấp sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ và các hồ sơ tài liệu khác có liên quan tới việc tính thuế, nộp thuế.

Thứ hai, quản lí tốt hoá đơn, chứng từ còn tạo điều kiện để xác định chính xác số lượng, trọng lượng hàng hoá đã tiêu thụ, từ đó cho phép xác định được sổ thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của hàng hoá và dịch vụ chịu thuế và thuế suất. Tuy nhiên, hai yếu tố này chỉ cho phép xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp cho một đơn vị hàng hoá. Đe xác định toàn bộ số thuế phải nộp cho một lô hàng chẳng hạn thì số lượng, trọng lượng hàng hoá đã tiêu thụ là một yếu tố quan ttọng.

Thứ ba, quàn lí hiệu quả hoá dơn, chứng từ còn tạo điều Liên thực hiện tốt việc khấu trừ thuế. Theo quy định của pháp luật, cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng nguyên liệu dã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì khi kê khai thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất được khấu trừ sọ thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nguyên liệu nếu có chứng từ hợp pháp. Như vậy trong trường hợp này, hoá đơn mua nguyên liệu đã phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là bằng chứng quan trọng, cho phép xác định được chính xác liệu cơ sở sản xuất có được khấu trừ thuế đầu vào không và khấu trừ bao nhiêu. Ở đây, trách nhiệm của cơ quan thuế là phải quản lí tốt số thuế tiêu thụ đặc biệt đầu vào được khấu trừ, hạn chế tình trạng doanh nghiệp khai khống số thuế tiêu thụ đặc biệt đầu vào nhằm giảm số thuế phải nộp. Để làm được điều đó, cơ quan thuế cần phải đối chiểu, so sánh số lượng nguyên liệu xuất kho dùng cho sản xuất (căn cứ vào hoá đơn) với số lượng nguyên liệu tính theo định mức kinh tế kĩ thuật cần thiết (căn cử vào định mức được duyệt) dùng cho sản xuất ra số sản phẩm đã tiêu thụ.

Thứ tư, quản lí chặt chẽ chứng từ hoá đơn sẽ cho phép cơ quan thuế kịp thời phát hiện những đối tượng nộp thuế không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hoá đơn, chúng từ để có biện phắp xử lí tránh thất thu cho ngân sách nhà nước. Theo phảp. luật hiện hành, đối với những đối tượng nộp thuế không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ, cơ quan thuế sẽ có quyền ấn định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Đây là một trong những quyền năng quan trộng của cơ quan thuế nhàm chống thất thù ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quyền năng này chỉ được thực hiện khi cơ quan thuế có khả năng phát hiện ra những đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt vi phạm chế độ hoá đơn, chứng từ. Tăng cường quản lí hoá đơn, chứng từ vì vậy, sẽ tạo điều kiện cho cơ quan thuế phát huy .được khả năng này.

Thứ năm, quản lí đúng đắn chứng từ, hoá đơn còn giúp cho việc xác định chính xác tính không chịu thuế của hàng hoá, từ đó loại trừ nghĩa vụ nộp thuế của cơ sở sản xuất hàng hoậ đó. Ví dụ: Trường hợp hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng nếu được cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu ra nước ngoài; hoặc hàng hoá do cơ sở sản xuất bán hoặc uỷ thác cho cơ sở kinh dọanh xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế sẽ không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong những trường hợp này, để chứng minh được rằng hàng hoá không phải chịu thuế, cơ sở kinh doanh phải có đầy đủ hồ sơ cho thấy hàng đã thực tế xuất khẩu. Hợp đồng bán hàng, hoặc gia công cho nước ngoài; hoá đơn bán hàng hoá xuất khẩu hoặc trả hàng, thanh toán tiền gia công, hoặc giao hàng uỷ thác xuất khẩu; tờ khai hàng hoá xuất khẩu có xác nhận của cơ quan hải quan về hàng hoá đã xuất khẩu; chứng từ thanh toán qua ngân hàng... là căn cứ quyết định tính không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hoá đem xuất khẩu trong những tình huống nói trên. Trong trường hợp này, cơ quan thuế, hải quan phải kiểm tra, xác minh hoá đơn chứng từ để xác định chính xác số lượng hàng hoá thực tế xuất khẩu, tức là số lượhg hàiig hoá không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt để tránh thất thoát tiền thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt vào ngân sách nhà nước.

3.2 Nội dung quản lí hoá đơn, chứng từ

Các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phải tuân thủ nghiêm túc chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ khi mua, bán hàng hoá, kinh doanh dịch vụ và vận chuyển hàng hoá.

Việc sử dụng hoá đơn cũng được đặt ra ngay cà khi cơ sở sản .xuất bán hàng, giao hàng cho các chi nhánh, cơ sở phụ thuộc và các đại lí.

Mọi trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ hoá đon, chứng từ và từ chối xuất tnnh hoá đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế tiêu thụ đặc biệt, cơ quan thuế có quyền ấn định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp.

Hiện nay, hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cũng đồng thời phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật thuế giá tộ gia tăng. Vì vậy, cơ sở sản xuất hàng hoá, kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cũng sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng như các hàng hoá, dịch vụ khác đang chịu thuế giá trị gia tăng.

3.3 Hoàn thuế, khấu trừ thuế, và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt

+ Hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt

Hoàn thuế là việc trả lại cho người nộp thuế một phần họặc toàn bộ số thuế mà người nộp thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước.

Theo pháp luật hiện hành, người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt được hoàn thuế trong các trường hợp: (1) hàng tạm nhập, tái xuất khẩu; (2) hàng là nguyên Ịiệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu; (3) quyết toán thuế khi sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sàn, chuyển đổi sở hữu, giao, bán khoán, cho tìiuê doanh nghiệp nhà nước có số thuế nộp thừa; (4) có quyết định hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyển theo quy định của pháp luật hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoặc hoàn thuế trong trường họp số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp lớn hofn số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Việc hoàn thuế trong trường hợp (1) và (2) chỉ thực hiện đối với hàng hoá thực tế xuất khẩu.

Đe được hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt, người nộp thuế phải nộp hồ sơ hoàn thuế tại cơ quan thuế quản lí trực tiếp hoặccơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế. Hồ sơ gồm: (1) văn bản yêu cầu hoàn thuế; (2) chứng từ nộp thuế; (3) các tài liệu khác liên quan đến yêu cầu hoàn thuế. Sau khi nhận được hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lí thuế phải làm thủ tục tiếp nhận hồ sơ (nếu hồ sơ đầy đủ) hoặc thông báo cho người nộp thuế hoàn chỉnh hồ sơ trong vòng ba ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lí thuế phải quyết định hoàn thuế; hoặc thông báo về việc chuyển hồ sơ sang diện kiểm tra thêm; hoặc phải thông báo lí do không hoàn thuế. Đối với những hồ sơ cần kiểm tra thêm, cơ quan quản lí thuế cần phải quyết định hoàn thuế hoặc không hoàn thuế trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hoàn thuế. Trường hợp từ chối ra quyết định hoàn thuế, cơ quan quản lí thuế phải thông báo lí do cụ thể.

+ Khấu trừ thuế tiêu thụ đặc biệt

Việc khấu trừ thuê tiêu thụ đặc biệt chỉ được thực hiện trong trường hợp người nộp thuê sản xuất hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng chính nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và chỉ khi người nộp thuế có chứng từ hợp pháp. Trong trường hợp đố, số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp ở khâu sản xuất, là số thuế được xác định sau khi đã khấu trự số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với phần nguyên liệu dùng vào sản xuất ra hàng hoá chịu thuế, số thuế được khấu trừ tương ứng với số thuế tiêu thụ đặc biệt của nguyên liệu đã sử dụng để sản xuất ra hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất bán. Cụ thể là:

Số thuế TTĐB Số thuế TTĐB đã nộp ở

Số thuế phải nộp của khâu nguyên liệu mua

TTĐB - hàng chịu thuế = vào tương ứng với số

phải nộp TTĐB xuất kho hàng xuất kho tiêụ thụ

tiêu thụ trong kì trong kì

Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhập khẩu (trừ xăng các loại) được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp ở khâu nhập khẩu khi xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp bán ra trong nước, số thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ tương ứng với số thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hoá nhập khẩu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bán ra.

+ Giảm thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt thuộc loại thuế gián thu, do người tiêu dùng chịu và thực chất cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế hoặc cơ sở nhập khẩu hàng hoá chịu thuế chỉ đứng ra nộp thuế thay cho người tiêu dùng. Việc nộp thuế, vì vậy, không ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của cơ sở kinh doanh có nghĩa vụ nộp thuế. Nói cách khác, vấn đề miễn và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt về nguyên tắc không cần đặt ra. Tuy nhiên, trong cả quãng thời gian dài trước đây, để chiếu cố đến khó khăn thực tế mà các cơ sở kinh doanh có thể gặp phải, pháp luật vẫn đề ra những trường hợp được xét miễn và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong những năm gạn đây, phạm vi các trường họp được xét miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đã dần dần được thu hẹp. Luật sửa đổi,'bổ sung một số điêu của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 đã bỏ bớt các trường hợp được xét giảm hoặc miễn thuế tiêu thụ đặc biệt, theo đó, cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ và cơ sở kinh doanh golf không còn được xếp vào những đối tượng đặc biệt được xét giảm thuế như trước đó. Vì vậy, từ ngày 01/01/2004, việc miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ được áp dụng trong hai trường hợp: Một là giảm hoặc miễn thuế khi cơ sở sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn khách quan, ảnh hưởng tới kết quả sản xuất; hai là giảm mức thuế suất cho các cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Sản xuất, lắp ráp ô tô ở nước ta khi đó được coi là ngành công nghiệp non trẻ, năng lực cạnh tranh còn yếu, vì vậy, cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước thì các cơ sở này mới có thể tồn tại trước sự cạnh tranh của ô tô ngoại nhập. Tuy nhiên, không thể loại bỏ ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước ra khỏi danh mục mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì điều đó sẽ trái với những cam kết quốc tế mà Việt Nam đã kí kếi có liên quan tới tính thống nhất về thuế giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trọng nước. Vì vậy khi đó, các nhà làm luật đã lựa chọn giải pháp giảm thuế trên mức thuế suất theo biểu thuế tiêu thụ đặc biệt trong ba năm từ 01/01/2004 đến 31/12/2006 cho các cơ sở sản xuất và lắp ráp ô tô. Từ năm 2007, các cơ sở này sẽ, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo đúng mức thuế suất quy định trong biểu thuế.

Như vậy, mặc dù biểu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003) quy định cùng mức thuế suất áp dụng chung cho ô-tô sản xuất, lắp ráp trong nước và ô tô nhập ngoại nhưng do quy định giảm thuế suất cho ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước nên thực chất vẫn có sự phân biệt về thuế suất giữa ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước và ô tô nhập khẩu từ ngoài nước. Đe sớm gia nhập WT0, sự phân biệt đối xử về thuế suất áp dụng đối với hai loại ô tô này theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 cần phải được xoá bỏ hoàn toàn. Vì vậy, Luật sửa đổi năm 2005 chỉ cho phép xét giảm hoặc miễn thuế trong trường hợp duy nhất, đó là khi cơ sở sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn khách quan. Đây vẫn là trường hợp cần tiếp tục duy trì chế độ giảm hoặc miễn thuế vì trên thực tế, các cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có thể gặp phải khó khăn khách quan thực sự, ảnh hưởng bất lợi tới kết quả sản xuất hoặc thậm chí làm mất khả năng sản xuất của cơ sở nộp thuế. Trong những tình huống đó, mặc dù tiền thuế cơ sở sản xuất đáng lẽ phải nộp ngân sách nhà nước, không phải là tiền túi của cơ sở đó mà là tiền thu hộ Nhà nước từ khách hàng nhưng nếu được giảm hoặc miễn số thuế này, rõ ràng cơ sở sản xuất sẽ được hỗ trợ về mặt tài chính để khắc phục hậu quả mà mình đã phải gánh chịu do gặp phải khó khăn khách quan. Dự liệu được những tình huống này, pháp luật quy định tuỳ theo mức độ thiệt hại xảy ra đối với cơ sở nộp thuế mà cơ sờ đó cỗ thể được xét giảm hoặc miễn thuế.

Tiếp tục lộ trình thu hẹp các trường hợp được ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt, hiện nay, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 không còn quỵ định về miễn thuế tiêu thụ đặc biệt mà chỉ còn quy định về giảm thuế. Luật cũng chỉ đưa ra lí do duy nhất cho trường hợp được giảm thuế, đó là khi người nộp thuế sản xuất hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ. Mức giảm thuế được xác định ừên cơ sở tổn thất thực tế do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiệt hại và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có).

Cơ quan quản lí thuế thực hiện việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế trên cơ sở hồ sơ đề nghị giảm thuế gồm ba phần. Một là văn bản đề nghị giảm thuế (lập theo mẫu), trong đó nêu rõ thời gian, lí do bị thiệt hại; giá trị tài sản bị thiệt hại; số lỗ do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra; số thuế phải nộp; số thuế đề nghị giảm; và danh mục tài liệu gửi kèm. Hai là biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi xảy ra thiên tai, tai nạn bất ngờ. Ba là bàn quyết toán tài chính, nếu đổi tượng nộp thuế là doanh nghiệp, kèm theo giải trình phân tích xác định số bị thiệt hại, số lỗ do bị thiệt hại.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan thuê ra quyết định giảm thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế lí do không thuộc diện được giảm thuế. Trong trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ, thời hạn ra quyết định giảm thuế có thể lên đến 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị giảm thuế tiêu thụ đặc biệt.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)