Cơ sở pháp lý:

- Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu

- Thông tư 11/2020/TT-BCT quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA

1. Khái quát về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu

Hiệp định EVFTA và IPA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam-EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại. EU hiện đang là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều năm 2019 đạt 56,45 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD. EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Nếu được đưa vào thực thi, EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến từ EU và các nước khác.

Về mặt chiến lược, việc đàm phán và thực thi các Hiệp định này cũng gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định.

2. Quy định hàng hóa được coi là có xuất xứ

Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định EVFTA không hoàn toàn mới đối với doanh nghiệp Việt Nam vì được xây dựng dựa trên quy tắc xuất xứ trong GSP, là cơ chế ưu đãi đơn phương mà EU dành cho các nước kém và đang phát triển (trong đó có Việt Nam). Tuy nhiên, so với các Hiệp định mà Việt Nam tham gia cùng ASEAN, CPTPP hoặc các Hiệp định song phương khác, quy tắc xuất xứ EVFTA có nhiều điểm mới hơn hẳn về cách xác định xuất xứ, về cách diễn đạt tiêu chí xuất xứ, về cơ chế chứng nhận xuất xứ và cơ chế xác minh xuất xứ.

Quy tắc xuất xứ được quy định tại Nghị định thư số 1 về Xuất xứ hàng hóa đính kèm Hiệp định EVFTA và đã được nội luật hóa tại Thông tư số 11 năm 2020 ngày 15/6/2020 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu. Ngoài những quy định tương tự quy tắc xuất xứ hàng hóa tại các FTA Việt Nam là thành viên liên quan đến tiêu chí xuất xứ thuần túy và không thuần túy, quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA tương đối phức tạp và có một số điểm cần lưu ý sau:

Xét về quy trình sản xuất và nguyên liệu chế biến thì WTO và các hiệp định quy định hàng hóa có xuất xứ được phân chia thành các cấp độ như sau:

- Một là hàng hóa có xuất xứ thuần túy. Cấp độ này chủ yếu áp dụng với hàng nông sản cơ bản được trồng, thu hoạch, chăn nuôi, sản xuất hoàn toàn tại lãnh thổ một bên tham gia Hiệp định. Ví dụ cây cà phê được trồng và thu hoạch tại Việt Nam thì hạt cà phê có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

- Hai là hàng hóa có xuất xứ nhưng không thuần túy. Cấp độ này áp dụng với hàng nông sản chế biến và hàng công nghiệp gia công từ nguồn nguyên liệu có xuất xứ và nguyên liệu không có xuất xứ. Ví dụ: nước ép chanh dây được làm từ quả chanh dây Việt Nam và đường, chất bảo quản, các thành phần khác nhập khẩu từ Thái Lan. Vậy, nước ép chanh dây được gọi là có xuất xứ Việt Nam nhưng không thuần túy.

- Trong cấp độ xuất xứ không thuần túy, cũng có trường hợp hàng hóa được làm từ nguyên liệu hoàn toàn không có xuất xứ. Ví dụ: kẹo chocolate có xuất xứ Bỉ được làm từ nguyên liệu cacao nhập khẩu từ châu Phi. Bỉ được coi là nước xuất xứ của kẹo chocolate khi tại đó, cacao được chế biến, làm chuyển đổi cơ bản về bản chất hàng hóa từ một loại quả hạt thành một loại bánh kẹo. Sau khi cacao nguyên liệu trải qua công đoạn chế biến đầy đủ, làm chuyển đổi bản chất hàng hóa, chocolate được coi là có xuất xứ của Bỉ nhưng không thuần túy.

Tương tự WTO và nhiều Hiệp định khác, EVFTA quy định hàng hóa được coi là có xuất xứ khi: (1) Hàng hóa có xuất xứ thuần túy tại một Nước thành viên. (2) Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy được tạo ra tại một Nước thành viên từ nguyên liệu không có xuất xứ với điều kiện nguyên liệu đó phải trải qua các công đoạn gia công, chế biến đầy đủ hay còn gọi là công đoạn gia công, chế biến cơ bản.

Hàng hóa có xuất xứ thuần túy EVFTA được áp dụng như sau

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy chủ yếu là nông sản cơ bản như cây trồng, rau củ, hoa quả, lợn gà, trứng, sữa, mật ong, vân vân. Các sản phẩm này được trồng, thu hoạch, hái lượm, chăn nuôi, khai thác hoàn toàn… tại nước thành viên. Ví dụ: giống xoài Đài Loan được trồng tại Việt Nam thì quả xoài thu hoạch từ cây xoài trồng trên đất Việt Nam sẽ có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

- EVFTA quy định mặt hàng thủy sản vẫn được coi là có xuất xứ thuần túy khi cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Nước thành viên. Tại một số Hiệp định khác, thủy sản được coi là có xuất xứ thuần túy khi được sinh ra và nuôi dưỡng tại nước thành viên. Như vậy, ở đây có sự khác biệt giữa EVFTA và Hiệp định khác ở quy định sinh ra hoặc nuôi dưỡng với quy định sinh ra và nuôi dưỡng tại Nước thành viên. Ví dụ: trứng cá tầm nhập khẩu từ Nga, không có xuất xứ Việt Nam, sau đó được ấp nở rồi nuôi dưỡng tại Việt Nam thì cá tầm có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

- Đối với mặt hàng thủy sản khai thác, EVFTA còn quy định về đội tàu đánh bắt trong đó có yêu cầu cụ thể về việc đăng ký tàu, treo cờ tàu và chủ sở hữu tàu khai thác thủy sản. Ví dụ: Cá ngừ đại dương khai thác ngoài vùng lãnh hải bởi tàu cá Việt Nam thì được coi là có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy được xác định theo các tiêu chí chủ yếu sau:

(i) Tiêu chí chuyển đổi cơ bản

(ii) Tiêu chí hạn mức nguyên liệu không có xuất xứ

(iii) Tiêu chí công đoạn gia công, chế biến cụ thể

- Tiêu chí chuyển đổi cơ bản hoặc đôi khi còn gọi là tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) có ví dụ áp dụng như sau: Cây lúa có mã số phân loại hàng hóa hay còn gọi là mã số HS thuộc chương 07, sau khi thu hoạch thì sản phẩm của cây lúa là hạt gạo có mã HS thuộc chương 10. Gạo được sử dụng để làm thành bún có mã HS tại chương 19. Như vậy, nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra đã thay đổi cơ bản về bản chất hàng hóa, đã có sự chuyển đổi từ cây lúa thành hạt gạo rồi thành sợi bún. Mã số HS của nguyên liệu đầu vào là 07 cũng khác mã số HS của sản phẩm đầu ra là 19. Trong trường hợp này, quốc gia diễn ra quá trình chế biến làm thay đổi bản chất hàng hóa thì được gọi là nước xuất xứ của hàng hóa.

- Tiêu chí hạn mức nguyên liệu không có xuất xứ: Đây là điểm khác biệt về tư duy xác định xuất xứ của EVFTA so với Hiệp định khác khi EVFTA xem xét hạn mức lượng nguyên liệu không có xuất xứ tối đa được sử dụng. Trong khi đó, các Hiệp định khác xác định xuất xứ hàng hóa dựa trên tổng hàm lượng giá trị được tạo ra trong khối. Cơ sở để xác định hạn mức trong EVFTA dựa trên giá xuất xưởng còn hầu hết các Hiệp định khác xác định hàm lượng dựa trên giá FOB.

- Tiêu chí công đoạn gia công, chế biến cụ thể hay quy trình sản xuất cụ thể (SP) tại EVFTA quy định nguyên liệu không có xuất xứ phải trải qua một quá trình sản xuất, gia công hoặc chế biến cụ thể tại một Bên thành viên FTA. Nếu một sản phẩm A có tiêu chí WO; sản phẩm B có tiêu chí LV; sản phẩm C có tiêu chí CTC, sản phẩm D có tiêu chí “LV hoặc CTC” thì sản phẩm E có quy trình sản xuất cụ thể sẽ không phải là một tiêu chí đơn lẻ nào trong bất cứ tiêu chí của A, B, C hoặc D mà sẽ là một quy trình sản xuất được mô tả trong quy định cụ thể, hoặc là quy trình sản xuất cụ thể kết hợp với một/ một vài các tiêu chí được liệt kê ở trên. Ưu điểm của tiêu chí này là “ko thay đổi”, nếu tuân theo cùng một quy trình sản xuất thì hàng hoá đạt chuẩn sẽ luôn tiếp tục có xuất xứ mà ko phụ thuộc vào chi phí nguyên liệu, nhân công và các yếu tố đầu vào khác (như khi áp dụng LV); cũng ko bị ảnh hưởng do thay đổi nguồn cung nguyên liệu (là yếu tố có thể tác động tới tiêu chí CTC).

3. Các quy định liên quan về xuất xứ EVFTA

3.1. Cộng gộp mở rộng

Tại Điều 3 Hiệp định EVFTA, cộng gộp mở rộng được phép áp dụng đối với (1) một số thủy sản có xuất xứ từ nước ASEAN là đối tác FTA của EU và (2) vải có xuất xứ Hàn Quốc với điều kiện Việt Nam, ASEAN và Hàn Quốc có thư thông báo tới EU về việc áp dụng nguyên tắc cộng gộp mở rộng và đảm bảo hợp tác hành chính trong trường hợp xác minh xuất xứ.

- Đối với mặt hàng thủy sản: cho phép nuôi trồng một số thủy sản từ con giống nhập khẩu (cá tầm, cá hồi) và linh hoạt nguyên liệu mực và bạch tuộc chế biến của Việt Nam được phép sử dụng nguyên liệu có xuất xứ ASEAN là đối tác FTA của EU.

- Đối với mặt hàng dệt may: được phép sử dụng vải có xuất xứ Hàn Quốc. EVFTA cho phép vải nguyên liệu của Hàn Quốc được coi như vải có xuất xứ để sản xuất hàng dệt may do Hàn Quốc vừa có Hiệp định với EU và vừa có Hiệp định với Việt Nam. Để thực hiện nguyên tắc cộng gộp này, Việt Nam, Hàn Quốc và EU cần thống nhất một số nội dung kỹ thuật và cơ chế xác minh xuất xứ của vải nguyên liệu. Sau khi thống nhất với Hàn Quốc và EU, Bộ Công Thương sẽ ban hành hướng dẫn. Hiện nay, Bộ Công Thương đang tích cực đàm phán với các bên để có thể sớm áp dụng nguyên tắc cộng gộp này.

3.2. Hàng hóa được quá cảnh và chia nhỏ tại nước thứ ba không thuộc lãnh thổ Hiệp định

EVFTA cho phép hàng hóa được chia nhỏ lô tại nước thứ ba nằm ngoài Hiệp định và vẫn được coi là không thay đổi xuất xứ khi có một số chứng từ chứng minh. Trong trường hợp này, cơ quan hải quan nước nhập khẩu có thể yêu cầu nhà nhập khẩu xuất trình chứng từ chứng minh hàng hóa nằm trong sự kiểm soát của hải quan nước thứ ba và không bị thay đổi xuất xứ cụ thể:

+ Chứng từ vận tải như vận đơn, chứng từ về việc đánh dấu, đánh số hàng hóa,

+ Chứng từ chứng minh hàng hóa như hóa đơn thương mại, hợp đồng mua bán,

+ Chứng nhận của hải quan nước thứ ba về việc hàng hóa không bị thay đổi hoặc chứng từ khác chứng minh hàng hóa vẫn nằm trong sự kiểm soát của hải quan nước quá cảnh hoặc chia nhỏ lô hàng, …

- Ví dụ về quy định chia nhỏ lô hàng tại nước thứ ba như sau: Lô hàng giày dép xuất khẩu từ Việt Nam và được gửi kho ngoại quan tại Anh Quốc khi Anh Quốc đã hoàn thành thủ tục ra khỏi Liên minh châu Âu - EU. Tại đó, lô hàng được chia nhỏ thành 3 phần.

+ Vào dịp Giáng sinh, 1/3 lô hàng được đưa sang Nga.

+ Vào dịp năm mới, 1/3 lô được đưa vào Pháp.

+ Vào dịp Tết Nguyên đán, 1/3 lô được làm thủ tục nhập khẩu vào Vương quốc Anh.

Hàng hóa sau khi chia nhỏ lô vẫn được coi là giữ nguyên xuất xứ khi có chứng từ chứng minh theo quy định EVFTA. Đây là quy định chưa từng có tiền lệ khi thành viên các Hiệp định khác còn rất băn khoăn làm sao đảm bảo được hàng hóa có xuất xứ không bị trộn lẫn với hàng không có xuất xứ sau khi được chia nhỏ lô. Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Chi-lê cũng có quy định gần tương tự nhưng đến nay vẫn hoàn toàn mới vì điều này hầu như chưa từng được áp dụng.

3.3. Tỷ lệ nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí xuất xứ

EVFTA cho phép sử dụng nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí xuất xứ hay còn được gọi theo thuật ngữ là “Tolerance” hoặc “Deminimis”. Linh hoạt này được hiểu là hạn mức nguyên liệu rất nhỏ dù không đáp ứng tiêu chí xuất xứ nhưng EVFTA vẫn cho phép sử dụng và hàng hóa vẫn được coi là có xuất xứ. Mức linh hoạt này áp dụng với các mặt hàng như sau:

- Với hàng nông nghiệp (trừ chương 01, chương 03 và chương 16): các mặt hàng nông nghiệp còn lại được phép sử dụng 10% nguyên liệu không đáp ứng xuất xứ tính theo trọng lượng hoặc giá xuất xưởng.

- Với hàng công nghiệp, tỷ lệ này là 10% tính theo giá xuất xưởng

- Hàng dệt may cho phép tỷ lệ từ 8-10% hoặc thậm chí vải kỹ thuật cao được linh hoạt lên đến 20-30% theo quy định tại chú giải tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 11/2020/TT-BCT ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Bộ Công Thương.

- Một số mặt hàng khác thuộc các Chương 27, 28, 29, v.v., tỷ lệ cho phép lên đến 20-50% tùy mặt hàng theo quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư số 11/2020/TT-BCT nêu trên.

3.4. Gia công đơn giản

Hiệp định EVFTA quy định cụ thể từng hành vi được coi là gia công đơn giản. “Công đoạn gia công chế biến đơn giản” là các công đoạn dù được thực hiện độc lập hoặc kết hợp với nhau cũng sẽ được coi là “không đủ điều kiện” đáp ứng quy tắc xuất xứ.

EVFTA có quy định riêng về danh mục các “công đoạn gia công chế biến đơn giản” mà hàng hóa nếu rơi vào một trong các công đoạn này sẽ không được xét xuất xứ. Điểm này khác với hầu hết các hiệp định còn lại chỉ quy định theo hướng đưa ra nguyên tắc chung như: các công đoạn thuộc về bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển (bốc dỡ hàng, xếp hàng, đóng gói hàng hóa). Quy định mang tính chung nhất có thể đảm bảo mọi hành vi liên quan nếu có những đặc điểm như quy định sẽ được loại trừ, không tính đến khi xác định xuất xứ hàng hóa, tránh bỏ sót những hành vi sẽ phát sinh trên thực tế sau này.

3.5. Quy định lãnh thổ để xác định xuất xứ EVFTA

- Theo quy định của EU về (1) lãnh thổ EU tại vùng Ceuta và Melilla ở châu Phi và (2) Liên minh hải quan của EU với Công quốc Andora và Cộng hòa San Marino, quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan EVFTA được thể hiện tại một số điều khoản cụ thể. Ngoài lãnh thổ Việt Nam và EU, theo quy định tại Tuyên bố chung - Văn kiện Hiệp định EVFTA, hàng hoá có xuất xứ từ Công quốc Andorra thuộc từ Chương 25 đến chương 97 và hàng hoá có xuất xứ từ Cộng hoà San Marino được Việt Nam chấp nhận là có xuất xứ từ Liên minh châu Âu. Hai lãnh thổ này không hề thuộc Khối Liên minh châu Âu

- EU mà chỉ nằm trên lục địa châu Âu nhưng hàng hóa được chấp nhận là có xuất xứ từ Liên minh châu Âu. Andorra (nằm giữa biên giới Pháp và Tây Ban Nha) và San Marino (nằm sát nước Ý).

- Ceuta và Melilla là hai vùng đất của Tây Ban Nha nhưng lại nằm trên lãnh thổ châu Phi, gần Marroc. Theo Nghị định thư về xuất xứ, Việt Nam cho phép việc nhập khẩu các sản phẩm thuộc EVFTA mà có xuất xứ từ Ceuta và Melilla áp dụng cơ chế hải quan tương tự với cơ chế hải quan áp dụng cho các sản phẩm nhập khẩu và có xuất xứ từ Liên minh châu Âu - EU.

3.6. Nhà xuất khẩu (đứng tên trên ô số 1)

Nhà xuất khẩu được phép ở nước thứ ba không phải thành viên EVFTA theo tư duy tiếp cận bản chất vấn đề là hàng hóa đáp ứng xuất xứ, không xét đến chủ sở hữu hàng hóa. Đây là điểm mới, khác nhiều các FTA Việt Nam tham gia có yêu cầu bắt buộc nhà xuất khẩu phải đặt trụ sở tại lãnh thổ nước thành viên Hiệp định, chỉ linh hoạt cho phép sử dụng hóa đơn bên thứ ba.

Ngoài các quy định trên, EVFTA còn có quy định khác tương tự như tại CPTPP: bộ hàng hóa,…

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập