1.Giới thiệu chung về Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ 

Nội dung của hiệp định này là: Giúp cho kinh tế của Mỹ, Canada và Mexico được dễ dàng. Cụ thể là việc Mỹ và Canada có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ sang México và México cũng dễ dàng chuyển giao nguồn nhân lực sang 2 nước kia. Ngoài ra, hiệp định này còn giúp cho 3 nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới về kinh tế với các khối như EU, AFTA,... Sau 18 năm tồn tại, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đang lộ những vết rạn nứt nghiêm trọng do những bất cập và sự lỗi thời khi nền kinh tế thế giới đang vận động không tuân theo những toan tính chủ quan.

NAFTA đã là nền tảng cho sự thống nhất về kinh tế và chính trị giữa ba nước Bắc Mỹ, nhưng giờ đây nền tảng này đang có những chấn động dữ dội từ bên trong và đe dọa đến thành công của những bước tiến trong tương lai.

Có rất nhiều vấn đề nổi lên trong mọi lĩnh vực như tranh cãi về thương mại, làn sóng nhập cư và hợp tác quân sự, đó cũng là những vấn đề mà cựu Tổng thống Mỹ, Barack Obama từng thảo luận với các đối tác México và Canada trong hội nghị thượng đỉnh Bắc Mỹ. Cuộc họp thường niên này vốn là nơi để các bên đề ra những kế hoạch tăng cường hợp tác và hội nhập thì lần này đã trở thành cơ hội để khuấy lại những vấn đề nóng bỏng chưa bao giờ được giải quyết triệt để. Cả México và Canađa đều không hài lòng với điều khoản "mua hàng Mỹ" của Tổng thống Mỹ. Việc Mỹ công khai yêu cầu các dự án xây dựng trong NAFTA phải mua sản phẩm của các công ty Mỹ là sự vi phạm nghiêm trọng các quy định của NAFTA. México đã trả đũa bằng cách áp thuế quan với hàng chục loại sản phẩm nhập khẩu của Mỹ.

Nhiều xung đột khác còn liên quan đến tình trạng nhập cư và vận tải hàng hóa giữa 3 nước Bắc Mỹ. Mặc dù NAFTA được chính các công ty Mỹ ủng hộ và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các điều khoản cho hiệp định này, nhưng đến nay, nhiều công ty Mỹ đã bị đánh bật khỏi sân chơi bởi sự cạnh tranh từ các công ty của Canađa và Mexico.

Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ, hay còn lại là ‘NAFTA’, là Hiệp định thương mại tự do giữa Ca-na-đa, Mê-hi-cô và Hoa Kỳ. Với tổng GDP năm 2010 là 17,6 nghìn tỉ USD, NAFTA là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Hiệp định NAFTA được đàm phán từ năm 1991 đến năm 1993, và được cơ quan lập pháp quốc gia của ba nước thông qua vào năm 1993, có hiệu lực pháp luật vào ngày 1/1/1994. Hiệp định NAFTA là mô hình quan trọng của FTAs hiện đại, bởi mức độ tự do hoá rất cao của nó. Hiệp định ngay lập tức đã loại bỏ thuế quan đối với phần lớn giao dịch thương mại hàng hoá giữa ba nước, đồng thời những hạn chế khác đối với thương mại, dịch vụ và đầu tư cũng được loại bỏ trong thời hạn 15 năm. Phần giới thiệu dưới đây về NAFTA sẽ trình bày một số nội dung chủ yếu, bao gồm: - Tự do hoá thương mại hàng hoá; - Tự do hoá đầu tư; và - Tự do hoá thương mại dịch vụ; và các - Quy trình giải quyết tranh chấp.

2.Những nội dung chủ yếu của NAFTA

NAFTA loại bỏ hoặc áp đặt những quy tắc nghiêm ngặt đối với một số rào cản thương mại và đầu tư. Những nội dung chủ yếu của Hiệp định bao gồm: - Mở cửa cơ chế mua sắm chính phủ cho các doanh nghiệp ở cả ba nước; - Loại bỏ những hạn chế về đầu tư nước ngoài (trừ một số ít lĩnh vực bị hạn chế do mỗi bên xác định) và đảm bảo không phân biệt đối xử đối với những công ty nội địa thuộc sở hữu của những nhà đầu tư ở các nước NAFTA khác; - Loại bỏ những hàng rào ngăn cản các công ty dịch vụ hoạt động xuyên biên giới các nước Bắc Mỹ, bao gồm các lĩnh vực chủ chốt như dịch vụ tài chính; - Quy định các nguyên tắc toàn diện để bảo hộ IPRs; và - Quy định ba cơ chế giải quyết tranh chấp, đó là: tranh chấp giữa chính phủ với chính phủ; tranh chấp giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài; và tranh chấp về các biện pháp chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng).

3. NAFTA là ví dụ điển hình về một FTA toàn diện và tự do hoá

Các nhà bình luận đã nhận xét rằng NAFTA là một mô hình FTA hiện đại xuất hiện sớm nhất, sau đó đã trở thành khuôn mẫu cho các FTAs toàn diện và nhiều tham vọng noi theo. Kể từ giữa những năm 1990, các nước châu Mỹ đã đi tiên phong trong việc đàm phán NAFTA - hiệp định thương mại tự do - đặc trưng bởi tính tham vọng và mục tiêu thực hiện tự do hoá thương mại và hội nhập không chỉ đối với hàng hoá, mà còn cả dịch vụ, cũng như các yếu tố quan trọng khác, như đầu tư, sở hữu trí tuệ và mua sắm chính phủ. Một học giả người Ca-na-đa nhận xét rằng Hiệp định này là một FTA toàn diện đầu tiên được thiết lập giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển: NAFTA là sự kiện quan trọng đáng nhớ trong biên niên sử của hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế. Lần đầu tiên từ trước đến nay, một hiệp định thương mại tự do toàn diện đã được thiết lập giữa các nước phát triển và nước đang phát triển. Hơn nữa, nó không chỉ mở rộng phạm vi của các hiệp định thương mại tự do truyền thống bằng cách bao quát các quyền sở hữu, đầu tư nước ngoài và dịch vụ, mà còn công nhận tầm quan trọng của những quyền và lợi ích về lao động và môi trường, mặc dù nó đề cập đến các vấn đề này chỉ nhằm mục đích để các nước thi hành pháp luật hiện hành của họ trong hai lĩnh vực này, hơn là đưa ra một số nguyên tắc chung và hành động thực thi.

4. NAFTA là ví dụ về một hiệp định thương mại tự do đầy ý nghĩa về thương mại

Những nhà xuất khẩu và cung ứng dịch vụ đánh giá giá trị của một FTA bất kì trên cơ sở giá trị của những cơ hội tiếp cận thị trường mới do hiệp định đưa ra. Những thương nhân này sẽ đặt ra những câu hỏi như: - FTA có loại bỏ nhanh chóng thuế quan ở thị trường nước ngoài đối với những sản phẩm có tầm quan trọng về thương mại hay không? - FTA có loại bỏ những NTBs và thuận lợi hoá thủ tục như thông quan hay không? - FTA có bao gồm nghĩa vụ nhằm bảo hộ IPRs một cách hiệu quả ở thị trường xuất khẩu hay không? - Bằng cách nào FTA quy định về sự tiếp cận thị trường trong lĩnh vực thương mại dịch vụ? Hiệp định có quy định nghĩa vụ dành đối xử NT cho nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài hay không? Nội dung của văn bản hiệp định sẽ trả lời cho những câu hỏi mang tính thương mại này, và chỉ trên cơ sở những cân nhắc mang tính thương mại như vậy, thì một FTA mới có thể được đánh giá là có tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường một cách có ý nghĩa cho nước xuất khẩu hay không? Với tư cách là luật sư hay nhà tư vấn, sự phân tích văn bản hiệp định sẽ không sâu sắc đối với khách hàng, nếu bạn không đề cập đến phần nội dung của hiệp định liên quan đến lợi ích xuất khẩu mang tính thương mại, hoặc những lợi ích của các bên tham gia mà chính họ không mong muốn tự do hoá thị trường nội địa. Những nhà đàm phán thay mặt quốc gia mình đàm phán để đi đến kí kết văn bản FTA có thể chấp thuận một FTA chất lượng cao, chỉ khi tất cả các chính phủ tham gia đàm phán cùng có chung tham vọng và ý chí chính trị cao để đạt được những mục tiêu này. Những cuộc đàm phán FTA chỉ có thể kết thúc thành công nếu giải quyết được cả những lợi ích xuất khẩu và những nhạy cảm về nhập khẩu của tất cả các bên. Điều này khiến việc đàm phán một hiệp định chất lượng cao trở thành thách thức lớn. Nói một cách đơn giản, những nhà đàm phán chỉ có thể nhận được từ phía đối tác sự nhượng bộ, nếu họ cũng nhượng bộ lại đối tác. Khi phân tích những quan tâm mang tính thương mại nói trên, chúng ta thấy rằng NAFTA là một hiệp định mang tính tự do hoá cao. Thuế quan đối với hầu hết các sản phẩm đã được loại bỏ hoàn toàn trong thời gian 15 năm (chỉ còn lại thuế quan đối với một số nông sản buôn bán giữa Hoa Kỳ và Ca-na-đa). Bên cạnh đó, còn có những cam kết quan trọng nhằm thúc đẩy đầu tư và thương mại trong lĩnh vực dịch vụ. Việc hiểu được rằng làm thế nào mà NAFTA đã đạt được mức độ tự do hoá cao như thế có thể giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa thương mại của những FTAs khác.

5. NAFTA thường xuyên bị tranh chấp

Những cơ chế giải quyết tranh chấp được đề ra trong NAFTA được chính phủ của các bên NAFTA và các nhà đầu tư của họ sử dụng thường xuyên. Theo quy tắc giải quyết tranh chấp của NAFTA, phán quyết cuối cùng của cơ quan giải quyết tranh chấp (panel) được tuyên bố công khai, và các bên có thể tuyên bố cho công chúng nhiều tài liệu đã được đệ trình trong quá trình kiện tụng. Kết quả là những phán quyết được tuyên bố công khai này đã đóng góp quan trọng cho nguồn án lệ của luật thương mại quốc tế, và nhất là tạo nguồn luật trọng tài liên quan đến giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư. Để hiểu được án lệ, cần phải hiểu những nghĩa vụ được quy định trong NAFTA

. NAFTA là hình mẫu cho những FTAs ký kết với Hoa Kỳ sau này

Kể từ khi NAFTA được đàm phán, Hoa Kỳ đã đàm phán FTAs với 18 nước, bao gồm một số nước ở Trung Mỹ, Trung Đông, cũng như Xinh-ga-po và Hàn Quốc ở châu Á. Năm 2012, Hoa Kỳ và Việt Nam đang trong quá trình đàm phán Hiệp định TPP với 7 quốc gia khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy rằng mỗi văn bản FTA sau này là sản phẩm duy nhất của quá trình đàm phán giữa các đối tác thương mại, nhưng cấu trúc và nội dung của NAFTA đã trở thành hình mẫu cho những cuộc đàm phán FTA giữa Hoa Kỳ với các nước Tây bán cầu khác. Những nội dung như loại bỏ thuế quan toàn diện và tự do hoá thương mại dịch vụ, cũng như cam kết bảo hộ IPRs, quyền lao động và bảo vệ môi trường, là những mục tiêu đàm phán tiếp tục của Hoa Kỳ. Việc nghiên cứu nội dung văn bản NAFTA có thể giúp hiểu được vấn đề: làm thế nào để những mục tiêu này được phản ánh trong Hiệp định?

Luật Minh Khuê (sưu tầm và viên tập)