1. Nên làm gì khi cán bộ địa chính đo đất sai dẫn đến tranh chấp?

Kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi có một vụ việc mong quý công ty tư vấn giúp tôi. Vụ việc như sau : Em tôi vừa xây móng nhà xong thì bị anh B có đất bên cạnh kiện ra Tòa là lấn đất. Cụ thể:Chúng tôi mua đất cùng 1 chủ tên D.
Lần lượt là tháng 10/2007 thì anh A mua, tôi (T)mua tháng 3/2008, anh C mua tháng 4/2008 và làm nhà tháng 9/2010. Cả 3 người đều được địa chính xã đo đạc đủ số đất từng người mua và làm bìa đỏ sau đó.
Thời điểm anh C đo đất làm nhà có gọi anh B (lúc này anh A đã bán lại cho anh B) địa chính và tôi đến vì thiếu 20 cm đất nên anh C làm nhà thụt vào 10 cm so với bìa đỏ. Đầu năm nay tôi bán đất lại cho em tôi và làm nhà cũng thụt vào 10cm so với bìa, với mục đích để anh B xây nhà sau đủ đất không ngờ lại bị anh B kiện ra Tòa. Khi UBND xã hòa giải thì nguyên đơn không chịu nên gửi lên Tòa giải quyết, Tòa đo lại đất lại bị thiếu 30cm cả 3 nhà(so với bìa). Khi sang nhượng đất cho em tôi địa chính đo cũng đủ đất. Tôi thấy vô lí quá nên tôi lên hỏi lại Tòa cách đo đạc thì được biết là nhà anh B không chịu ranh giới ngoài cùng như chúng tôi đo mà dịch vào so với điểm mốc chúng tôi đo. Đã 2 lần Tòa hòa giải rồi mà lần thứ 3 này không thành nữa thì theo luật gia Tòa sẽ giải quyết thế nào?
Cảm ơn!

Trả lời:

Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo như bạn trình bày thì sau khi tòa đo lại diện tích của ba thửa thì thiếu 30 cm cả ba nhà. Lỗi ở đây là do cán bộ địa chính Xã đo không chính xác diện tích đất so với diện tích đất được ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nếu như lần thứ ba mà Toà án hòa giải không thành nữa thì Tòa sẽ đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng Hành chính đối với vụ án này. Đối tượng khởi kiện ở đây sẽ được tòa xác định cho người khởi kiện là khởi kiện hành vi hành chính. Cụ thể là hành vi đo sai diện tích đất của cán bộ địa chính Xã. Vì ở đây lỗi không phải do việc em bạn thực hiện hành vi cố ý lấn chiếm đất của anh B, mà là do việc cán bộ địa chính Xã xác định sai diện tích đất nên dẫn đến tranh chấp giữa em bạn và anh B.

Khoản 3 khoản 4 của Luật tố tụng hành chính 2015 quy định:

Điều 3: Giải thích từ ngữ.

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

4. Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Như vậy từ quy định trên thấy rằng hành vi hành chính của cán bộ địa chính Xã đã ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của của ba hộ trong đó có anh B.

Sau khi xác định rõ hành vi hành chính của Cán bộ địa chính Xã sai tòa giải quyết như sau: Căn cứ vào Giải đáp Số: 02/GĐ-TANDTC ngày 19 tháng 9 năm 2016 một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự quy định:

“ 12. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện thì giải quyết như thế nào?

Trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện thì căn cứ vào khoản 12 Điều 38, khoản 3 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015, Thẩm phán, Hội đồng xét xử báo cáo, đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó.”

Như vậy, khi tòa xác định hành vi hành chính về việc đo diện tích đất sai so với diện tích đất được cấp trong GCNQSDĐ của Cán bộ địa chính sai thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử báo cáo, đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. Cụ thể ở đây là Phòng tài nguyên và môi trường sẽ có trách nhiệm xử lý vấn đề này.

Trong trường hợp này anh B là người khởi kiện, còn em bạn là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan nên nếu có thiệt hại xẩy ra thì em bạn vẫn có quyền yêu cầu đòi bồi thường do hành vi hành chính của cán bộ địa chính Xã gây ra. Căn cứ khoản 1 điều 7 Luật tố tụng hành chính 2015.

Điều 7. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính

1. Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri gây ra.
Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.

Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính, các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết.”

Như vậy, việc xây móng nhà của em bạn lại bị anh B khởi kiện ra Tòa xuất phát từ việc đo sai diện tích đất của Cán bộ địa chính Xã. Cơ quan giải quyết cuối cùng sẽ là phòng tài nguyên và môi trường giải quyết vấn đề này.

Chúc bạn sớm giải quyết xong ! Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 

2. Xử lý thế nào khi xin cấp sổ đỏ mà địa chính xã gây khó khăn?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi đang có vấn đề về giấy quyền sử dụng đất, xin nhờ các anh chị tư vấn giúp. Tôi mua lại mảnh đất của một anh gần nhà (mảnh đất này anh ấy mua của ủy ban nhân dân xã trường thọ bán đấu giá). Khi tôi mua lại thì bên địa chính xã làm việc trực tiếp với tôi, chịu trách nhiệm làm hợp đồng và quyền sử dụng đất cho tôi.
Nhưng đến nay đã gần 2 năm rồi mà vẫn chưa làm được, tôi có gọi điện hỏi thì bên địa chính bảo đang đợi trên huyện ký, nhưng 2 tháng nay tôi gọi điện thoại thì họ không nghe máy, nhắn tin họ cũng không nhắn lại.
Vậy tôi phải làm sao? Pháp luật đất đai quy định như thế nào về trường hợp của tôi ?
Rất mong được Luật Minh Khuê tư vấn hướng giải quyết! Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Theo quy định tại điều 14 TThông tư liên tịch 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP Quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất quy định về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất trên thực địa cho người trúng đấu giá như sau:

"1. Sau khi đã nhận được chứng từ nộp đủ tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất của người trúng đấu giá, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất theo quy định tại Điểm d Khoản 5 Điều 68 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

2. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trúng đấu giá, cơ quan tài nguyên và môi trường chủ trì, phối hợp với đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất đấu giá, tổ chức thực hiện bàn giao đất trên thực địa và trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất; chỉ đạo đơn vị có liên quan thực hiện cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ địa chính theo quy định hiện hành."

Việc cán bộ xã chậm trễ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn là sai với quy định trên của pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể tiến hành thủ tục khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyết định hành chính bị khiếu nại bao gồm, quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...

Việc khiếu nại về đất đai được quy định như sau:

Điều 204 Luật Đất đai năm 2013:

"1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Ngoài ra Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 có quy định về trình tự khiếu nại như sau:

"1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính."

Bên cạnh đó Điều 8 Luật Khiếu nại có quy định về các hình thức khiếu nại, cụ thể như sau:

"1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này"

Các quy định trên đã nêu rất cụ thể và đầy đủ thẩm quyền giải quyết cũng như hình thức đơn khiếu nại, bạn có thể dựa vào các quy định đó để đưa ra quyết định phù hợp nhất bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách qua tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

 

3. Mức phí địa chính khi đo đạc cấp sổ đỏ?

Thưa Luật sư! Tôi ở huyện vùng núi bắc quang tỉnh Hà Giang, tôi có mua 2 mảnh đất của 2 hộ khác nhau. Trường hợp 1: tôi mua mảnh đất 350m2 đã có sổ đỏ. Trường hợp 2: tôi mua mảnh đất 390m2 là một phần của mảnh đất 800m2 đã có sổ đỏ. Khi tôi tiến hành làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tôi lên ủy ban nhân dân xã (UBND) gặp anh địa chính để hỏi thủ tục thực hiện. Được trả lời là: trường hợp 1 thì không phải đo đạc tại hiện trường. Trường hợp 2 phải xuống đo đạc thực tế. Hôm sau anh địa chính xuống đo mảnh đất trường hợp thứ 2 (mảnh đất 390m2 trong 800m2). Đo đạc xong thì bảo chúng tôi photo công chứng hộ khẩu, chứng minh nhân dân cả 3 bên ( tôi, chủ đất trường hợp 1 và 2). Tôi đã thực hiện xong và lên làm việc với ban địa chính xã. Sau đó được đưa cho 2 bộ hồ sơ gồm có một hợp đồng mua bán đất và một bản vẽ bằng tay 2 thửa đất nói trên bảo chúng tôi lên phòng giao dịch một cửa của huyện Bắc Quang làm việc. Và ban địa chính xã thu của chúng tôi số tiền 1 triệu đồng cho 02 bộ hồ sơ nói trên và được giải thích là: 01 bộ hồ sơ là 500 nghìn đồng trong đó tiền hồ sơ là 100 nghìn đồng và tiền phí địa chính là 400 nghìn đồng. Tổng 02 bộ tôi phải đóng 1 triệu nhưng không được ghi phiếu thu gì cả.
Vì tôi không hiểu luật nên đã nộp 1 triệu đồng cho anh địa chính. Tôi thắc mắc và muốn luật sư giải đáp cho tôi về việc ban địa chính thu phí như vậy đã đúng chưa?
Xin cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi : 1900.6162

 

Trả lời:

Căn cứ Thông tư 02/2014/TT-BTC hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định như sau:

a.6. Phí đo đạc, lập bản đồ địa chính

- Phí đo đạc, lập bản đồ địa chính là khoản thu đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất mới hoặc được phép thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất, nhằm hỗ trợ thêm cho chi phí đo đạc, lập bản đồ địa chính ở những nơi chưa có bản đồ địa chính có tọa độ.

- Mức thu: Căn cứ vào các bước công việc, yêu cầu công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và tùy thuộc vào vị trí, diện tích đất được giao, được thuê hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng lớn hay nhỏ của từng dự án, nhưng mức thu phí đo đạc, lập bản đồ địa chính tối đa không quá 1.500 đồng/m2.

Hơn thế, theo Nghị quyết 16/2008/NQ-HĐND Về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 34/2004/NQ-HĐND ngày 16/12/ 2004 và Nghị quyết số 06/2005/NQ-HĐND ngày 8/7/2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang thì Định mức thu được quy định cụ thể như sau:

Dựa trên diện tích đất cấp quyền sử dụng, tính chất phức tạp của từng loại hồ sơ cấp quyền sử dụng đất bao gồm cấp mới, cấp đổi, cấp lại và việc sử dụng đất vào mục đích khác nhau như: làm nhà ở, để sản xuất, kinh doanh.

a. Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh, trụ sở làm việc:

Diện tích (m2)

Mức thu

Từ 1.000 m2 trở xuống

100.000 đồng/hồ sơ

Trên 1.000 m2 đến 10.000 m2

200.000 đồng/hổ sơ

Trên 10.000 m2 đến 50.000 m2

500.000 đồng/hồ sơ

Trên 50.000 m2 đến 150.000 m2

1.000.000 đồng/hồ sơ

Trên 150.000 m2

2.000.000 đồng/hồ sơ

b. Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở:

- Đối với khu vực các xã, phường của thị xã Hà Giang, thị trấn và các xã nơi UBND huyện đóng trụ sở mức thu 50.000 đồng/hồ sơ.

- Đối với khu vực các xã còn lại trên địa bàn tỉnh mức thu: 35.000 đồng/hồ sơ.

Như vậy, trên đây là một số quy định về phí địa chính của địa phương bạn, để có thể biết chính xác mức thu của mình đúng hay sai bạn nên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cho biết thêm về các khoản thu và mức thu theo quy định của từng huyện (vùng).

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

 

4. Tư vấn tranh chấp về quyền sử dụng đất ?

Kinh chào luật sư. Tôi mong luật sư giải đáp thắc mắc về đất đai giúp tôi. Trước năm 1996, tôi sống chung với chồng cũ trên mảnh đất gia đình nhà chồng cho. Đến năm 1996, vợ chồng li hôn nhên tôi bán mảnh đất đó. Năm 2004, tôi và 2 con (2 con đều với chồng cũ) sống chung với người chồng thứ 2 nhưng không có đăng kí kết hôn. Năm 2007, tôi dùng số tiền bán đất của chồng cũ để mua mảnh đất hiện tại. Nhưng tôi nhờ em trai tôi đứng tên mảnh đất đó.Chúng tôi chỉ có giấy tờ mua bán viết tay giữa bên mua và bên bán.

Cùng năm 2007 thì tôi cùng 2 con và chồng thứ hai chuyển về sống tại mảnh đất mới mua. Tôi để chồng thứ 2 nhập hộ khẩu để chồng đứng tên chủ hộ. Hiện tại, tôi đã ly thân với chồng thứ 2 và sống với 2 con. Tuy nhiên, chồng hai của tôi đã tự ý làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã tự ý bán mảnh đất mà em trai tôi đứng tên mua.

Tôi xin được hỏi luật sư mấy vấn đề như sau:

1. Việc mua bán khoảng đất đó có trai phép không?

2. Tôi có ý định nhờ chính quyền can thiệp để giữ lại mảnh đất và không cho người đã mua nó xây dựng nhà ở trên đất. Nhờ luật sự tư vấn giúp tôi rằng tôi cần phải làm những thủ tục gì?

Chân thành cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn đất đai, xây dựng trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vấn đề đầu tiên:

Theo quy định tại khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013 quy định về Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất như sau:

“3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã”

Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực.

"Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực."

Hợp đồng của bạn là hợp đồng viết tay, không đúng với yêu cầu của Luật đất đai là công chứng, chứng thực nên rất có khả năng bị tuyên bố vô hiệu khi Tòa án xem xét. Bởi vậy việc đầu tiên bạn cần làm là đi công chứng chứng thực hợp đồng bạn đã mua bán đất để giao dịch hợp pháp.

Còn đối với việc chồng hai của bạn đã tự ý làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã tự ý bán mảnh đất mà em trai bạn đứng tên mua thì việc mua bán này hoàn toàn trái với quy định xuất phát từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai trái của cơ quan tài nguyên môi trường đã cấp giấy cho chồng thứ hai của bạn. Vì chồng hai của bạn không có giấy tờ hợp pháp nào chứng minh quyền sử dụng đất trên mảnh đất đó cả, đó là mảnh đất mà em trai bạn chỉ cần đi công chứng chứng thực là lập tức sẽ thuộc về em trai bạn.

Theo Khoản 1 Điều 24 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 quy định:

"Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân".

Việc bạn đồng ý cho chồng hai nhập hộ khẩu để đứng tên chủ hộ là việc đăng ký với cơ quan nhà nước chỗ ở thường xuyên của chồng hai của bạn theo quy định của pháp luật về cư trú, không ảnh hưởng gì đề quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở của bạn (mà thực chất trong trường hợp này là của em trai bạn, do em trai bạn là người đứng tên mảnh đất đó). Tên chồng hai của bạn ghi trong Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi thường trú của chồng, không phải là căn cứ xác lập hay xác định quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại nơi đăng ký thường trú. Theo đó, việc mua bán này là không đúng theo quy định của pháp luật.

Vấn đề thứ hai:

Để giữ lại mảnh đất và không cho người đã mua nó xây dựng nhà ở trên đất thì bạn cần khiếu nại ngay về việc quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai trái của cơ quan tài nguyên môi trường đã cấp cho chồng hai của bạn.

* Trình tự khiếu nại (Điều 7 Luật khiếu nại 2011):

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

* Hình thức khiếu nại (Điều 8 Luật Khiếu nại):

- Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

- Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

- Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. 

 

5. Cách khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán đất đai?

Thưa luật sư, tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Tôi có một mảnh đất 3000m2, trong đó có 100m2 là đất thổ cư. Tôi có nhờ một người hàng xóm làm giúp thêm 300m2 đất thổ cư nữa. Người đó đồng ý và bảo mất 60.000.000đ(sáu mươi triệu đồng chẵn). Sau 5 lần 7 lượt người đó hứa trả Sổ Đỏ cho Tôi mà tôi không nhận được. Người ấy nói chỉ làm thêm được 200m2 đất thổ cư mà thôi. Tôi chấp nhận, và lại chờ đợi vài lần hứa trả Sổ Đỏ nữa. Cuối cùng Tôi cũng nhận được Sổ Đỏ nhưng trong sổ Đỏ tôi nhận được thì Ông ta chỉ làm thêm được 100m2 đất thổ cư mà thôi. Tôi yêu cầu ông ta trả lại 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng chẵn). Nhưng ông ta không trả.
Vậy tôi phải làm đơn như thế nào xin Luật Sư tư vẫn giúp cho tôi?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến gọi:1900.6162

 

Luật sư tư vấn:

Có hai trường hợp sau:

- Thứ nhất, nếu bạn làm nội dung đơn kiện là thỏa thuận đất đai, mà việc làm tăng diện tích của đất thổ cư lên không đúng hiện trạng với diện tích đất thực tế nên đây là hành vi vi phạm pháp luật, do đó căn cứ quy định tại điều 123, Bộ luật Dân sự năm 2015:

" Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Do đó, hợp đồng trên của bạn và người hàng xóm bị vô hiệu, Tòa án sẽ yêu cầu người hàng xóm trả lại tiền cho bạn và bạn phải phần đất thổ cư tăng thêm 100m2 trái pháp luật trong sổ đỏ sẽ bị hủy bỏ của cơ quan địa chính. Đồng thời, hành vi vi phạm của Bạn và người hàng xóm có thể chịu trách nhiệm hình sự về các tội đưa hối lộ ( điều 289); tội môi giới hối lộ ( điều 290) hoặc tội nhận hối lộ ( điều 279) Bộ luật hình sự năm 1999.

- Thứ hai, nếu bạn ghi nội dung đơn kiện là thỏa thuận vay tiền và yêu cầu người hàng xóm khi trình bày nội dung thỏa thuận cũng là vay tiền và quá trình điều tra của công an không phát hiện ra việc thỏa thuận đất đai này thì Tòa án sẽ yêu cầu người hàng xóm trả tiền cho bạn căn cứ theo quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

" Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng/.