Mục lục bài viết

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là một trong những yếu tố cốt lõi quyết định mức đóng, mức hưởng và tính công bằng của hệ thống an sinh xã hội. Theo quy định mới, cách xác định tiền lương tham gia bảo hiểm xã hội đã có những điều chỉnh nhằm bảo đảm phản ánh đúng thu nhập thực tế của người lao động và hạn chế tình trạng trốn đóng, đóng không đầy đủ. Việc hiểu rõ quy định này giúp người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan liên quan thực hiện đúng trách nhiệm pháp lý của mình. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền lợi lâu dài khi thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.

1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với nhóm hưởng lương theo chế độ Nhà nước

Trong cấu trúc của hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam, nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước luôn được coi là nhóm hạt nhân với các quy định đóng và hưởng có tính ổn định cao. Tuy nhiên, sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đặt trong bối cảnh cải cách tiền lương khu vực công đã mang đến những thay đổi căn bản về cách thức xác định căn cứ đóng cho nhóm này.   

1.1. Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội 

Đối với cán bộ, công chức, viên chức, và lực lượng vũ trang, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vốn được xây dựng trên nền tảng của hệ thống thang bảng lương, ngạch bậc do Nhà nước quy định. Trước ngày Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 có hiệu lực, tiền lương này bao gồm mức lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề. Điểm đặc trưng nhất của cơ chế này là việc sử dụng "mức lương cơ sở" như một tham chiếu chung để tính toán giá trị thực tế của các hệ số lương.   

Tuy nhiên, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, một khái niệm mới là "mức tham chiếu" sẽ chính thức thay thế mức lương cơ sở trong việc tính đóng bảo hiểm xã hội. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ theo lộ trình cải cách tiền lương, mức tham chiếu sẽ được Chính phủ quyết định nhưng không được thấp hơn mức lương cơ sở tại thời điểm đó. Điều này đảm bảo rằng nền tảng đóng bảo hiểm của khu vực công không bị sụt giảm khi chuyển đổi sang hệ thống bảng lương mới dựa trên vị trí việc làm.   

1.2. Căn cứ đóng cho nhóm đối tượng cụ thể

Pháp luật quy định cụ thể các khoản phụ cấp được tính vào căn cứ đóng để đảm bảo quyền lợi hưu trí sau này cho người lao động khu vực công. Theo các văn bản hướng dẫn như Nghị định 158/2025/NĐ-CP và Thông tư 12/2025/TT-BNV, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của nhóm này được chi tiết hóa như sau :   

  • Cán bộ, công chức, viên chức: Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, kèm theo các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu có. Việc duy trì hệ số chênh lệch bảo lưu lương là một cơ chế quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động khi thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính hoặc chuyển đổi vị trí công tác mà không làm giảm mức đóng bảo hiểm xã hội hiện có.   
  • Lực lượng vũ trang và cơ yếu: Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân, sĩ quan và hạ sĩ quan công an nhân dân, tiền lương đóng bảo hiểm xã hội dựa trên cấp bậc quân hàm và các loại phụ cấp đặc thù ngành. Đặc biệt, đối với công nhân công an và viên chức quốc phòng, căn cứ đóng được tính theo thang bảng lương dành cho lao động hợp đồng trong lực lượng vũ trang, đảm bảo tính thống nhất với khu vực doanh nghiệp nhưng vẫn giữ được những đặc thù ưu đãi của ngành.

1.3. Bảng so sánh căn cứ đóng trước và sau khi bãi bỏ mức lương cơ sở

Thành phần Trước 01/07/2025 Từ 01/07/2025 
Đơn vị tính Hệ số x Mức lương cơ sở Hệ số (hoặc mức lương) x Mức tham chiếu
Giá trị tham chiếu 2.340.000 đồng (Nghị định 73/2024/NĐ-CP) Không thấp hơn 2.340.000 đồng
Phụ cấp thâm niên nghề Có tính đóng (giáo dục, y tế, quân đội...) Tiếp tục tính đóng theo quy định mới
Hệ số bảo lưu Tính đóng theo quy định Tính đóng và điều chỉnh theo mức tham chiếu

Thay vì cố định vào một mức lương cơ sở dùng chung cho cả mục đích trả lương và mục đích bảo hiểm, mức tham chiếu cho phép Chính phủ điều chỉnh căn cứ đóng và hưởng bảo hiểm xã hội dựa trên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tăng trưởng kinh tế mà không nhất thiết phải đồng nhất với sự thay đổi của bảng lương khu vực công.

2. Tiền lương làm căn cứ đóng đối với nhóm hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định

Nhóm lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế phi nhà nước là đối tượng trọng tâm của việc mở rộng và siết chặt quy định về tiền lương đóng bảo hiểm xã hội. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tiếp tục kế thừa và nâng cao tính minh bạch của các khoản thu nhập làm căn cứ đóng nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp "lách luật" bằng cách chia nhỏ tiền lương thành nhiều khoản hỗ trợ không tính bảo hiểm.

2.1. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Căn cứ theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và hướng dẫn tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với nhóm này bao gồm ba thành phần chủ chốt ghi trong hợp đồng lao động:

  • Mức lương theo công việc hoặc chức danh: Đây là số tiền cụ thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, phản ánh giá trị của vị trí việc làm theo thang lương, bảng lương của doanh nghiệp. Mức lương này phải đảm bảo không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc mức tham chiếu tùy thuộc vào loại hình lao động.
  • Phụ cấp lương: Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 yêu cầu các khoản phụ cấp lương nhằm bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt và mức độ thu hút lao động phải được đưa vào căn cứ đóng bảo hiểm. Các khoản phụ cấp này bao gồm phụ cấp chức vụ, chức danh, trách nhiệm, phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thâm niên, phụ cấp khu vực, lưu động và phụ cấp thu hút.
  • Các khoản bổ sung khác: Đây là điểm nhấn quan trọng trong việc bao quát thu nhập thực tế. Các khoản bổ sung này phải xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.

2.2. Các khoản thu nhập không tính đóng bảo hiểm xã hội

Để tạo dư địa cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách phúc lợi linh hoạt và hỗ trợ trực tiếp đời sống người lao động, pháp luật quy định danh mục các khoản thu nhập không tính vào căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Việc tách biệt rõ ràng này giúp giảm bớt áp lực chi phí cho doanh nghiệp đối với các khoản mang tính chất hỗ trợ ngắn hạn hoặc không thường xuyên :

Khoản thu nhập Trạng thái Căn cứ pháp lý & Ý nghĩa
Tiền thưởng (Điều 104 BLLĐ) Không đóng Ghi nhận kết quả sản xuất kinh doanh, không có tính ổn định tiền lương
Tiền ăn giữa ca Không đóng Hỗ trợ chi phí sinh hoạt trực tiếp tại nơi làm việc
Hỗ trợ xăng xe, điện thoại Không đóng Bù đắp chi phí công cụ dụng cụ và di chuyển cho công việc
Hỗ trợ nhà ở, tiền giữ trẻ Không đóng Chính sách phúc lợi hỗ trợ người lao động có con nhỏ, khó khăn nhà ở
Trợ cấp kết hôn, sinh nhật Không đóng Các khoản chi mang tính chất thăm hỏi, động viên cá nhân
Tiền thưởng sáng kiến Không đóng Khuyến khích sự sáng tạo, không thuộc quỹ lương thường xuyên

Việc loại trừ các khoản này khỏi căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đòi hỏi doanh nghiệp phải hạch toán rõ ràng trong hợp đồng lao động và quy chế lương thưởng. Các khoản hỗ trợ này nếu không được ghi thành mục riêng hoặc có tính chất chi trả thay thế lương thì vẫn có nguy cơ bị cơ quan bảo hiểm truy thu nếu bị xác định là biến tướng của tiền lương.

2.3. Tác động của việc cụ thể hóa thu nhập đóng bảo hiểm xã hội

Xu hướng chính sách giai đoạn 2026-2027 cho thấy Nhà nước sẽ tăng cường kiểm soát tính xác thực của các khoản thu nhập đóng bảo hiểm. Việc bao quát tốt hơn tổng thu nhập thực tế không chỉ giúp gia tăng nguồn thu cho quỹ bảo hiểm xã hội mà quan trọng hơn, nó đảm bảo quyền lợi lâu dài cho người lao động. Một mức đóng bảo hiểm sát với thu nhập thực tế sẽ dẫn đến một mức lương hưu có giá trị thay thế thực tế cao hơn, giúp người lao động duy trì mức sống ổn định sau khi rời khỏi thị trường lao động. Đồng thời, các doanh nghiệp tuân thủ tốt sẽ giảm thiểu rủi ro bị xử phạt hành chính lên tới 150 triệu đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội.

3. Tiền lương làm căn cứ đóng đối với một số nhóm đặc thù do Chính phủ quy định

Một trong những điểm đổi mới mạnh mẽ nhất của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tới các nhóm lao động đặc thù. Đối với các nhóm này, thu nhập thường không ổn định hoặc không có hợp đồng lao động truyền thống, do đó Chính phủ đã ban hành các quy định riêng về căn cứ đóng để phù hợp với thực tiễn. 

3.1. Chủ hộ kinh doanh và Người quản lý không hưởng lương

Luật 2024 lần đầu tiên đưa chủ hộ kinh doanh (có đăng ký kinh doanh) và người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên không hưởng lương vào diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đây là nhóm đối tượng có đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng trước đây thường nằm ngoài lưới an sinh bắt buộc.   

  • Chủ hộ kinh doanh: Theo Nghị định 158/2025/NĐ-CP, chủ hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai sẽ bắt đầu tham gia từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương do chủ hộ tự lựa chọn, đảm bảo tối thiểu bằng mức tham chiếu và tối đa bằng 20 lần mức tham chiếu.   
  • Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên không hưởng lương: Đối với những người đại diện phần vốn nhà nước hoặc thành viên Hội đồng quản trị không nhận lương hàng tháng mà chỉ hưởng thù lao, tiền lương làm căn cứ đóng cũng do họ tự lựa chọn trong giới hạn tương tự như chủ hộ kinh doanh. Nếu các đối tượng này đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc tham gia sẽ được xác định theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.   

3.2. Lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng

Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là đối tượng đặc thù vì họ đóng bảo hiểm tại Việt Nam nhưng hưởng lương tại quốc gia tiếp nhận lao động. Căn cứ đóng được xác định như sau :   

  • Người đã có quá trình đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc: Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cuối cùng trước khi đi làm việc ở nước ngoài.   
  • Người chưa tham gia hoặc đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần: Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội do người lao động lựa chọn nhưng không thấp hơn mức tham chiếu.   
  • Tỷ lệ và phương thức đóng: Mức đóng hàng tháng là 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Người lao động có thể chọn phương thức đóng linh hoạt: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng trước toàn bộ thời hạn hợp đồng.   

3.3. Phu nhân, phu quân cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Vợ hoặc chồng được cử đi công tác nhiệm kỳ cùng thành viên cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được hưởng chế độ sinh hoạt phí từ ngân sách nhà nước cũng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức đóng hằng tháng của nhóm này bằng 22% của 02 lần mức tham chiếu đối với người chưa tham gia hoặc đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Đây là quy định nhằm đảm bảo thời gian đóng bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn đối với những người phải tạm dừng công việc trong nước để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao cùng bạn đời.   

3.4. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn và tổ dân phố

Nhóm đối tượng này có mức phụ cấp khá thấp, do đó Luật 2024 quy định căn cứ đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng bằng mức tham chiếu. Một cải cách quan trọng là việc bổ sung chế độ ốm đau và thai sản cho nhóm này, tạo sự bình đẳng hơn về quyền lợi so với cán bộ, công chức cấp xã. Tỷ lệ đóng hàng tháng là 8% vào quỹ hưu trí và tử tuất. 

4. Quyền lựa chọn mức tiền lương làm căn cứ đóng của một số nhóm lao động

Một trong những bước tiến mang tính nhân văn và linh hoạt của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là việc trao quyền chủ động cho người lao động trong việc xác định căn cứ đóng bảo hiểm. Quyền lựa chọn này giúp hài hòa giữa khả năng tài chính hiện tại và nhu cầu an sinh trong tương lai của những nhóm lao động không có thu nhập cố định từ tiền lương. 

4.1. Đối tượng và phạm vi lựa chọn

Quyền lựa chọn mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng cụ thể cho các nhóm sau đây theo quy định tại Điều 31 và Điều 33 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 :   

  • Người lao động làm việc không trọn thời gian (part-time) có tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức đóng thấp nhất.   
  • Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh.   
  • Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn không hưởng tiền lương.   
  • Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thuộc đối tượng tham gia mới.   

4.2. Cơ chế thực hiện và giới hạn điều chỉnh

Việc lựa chọn mức đóng không phải là tùy ý tuyệt đối mà phải tuân thủ các khung pháp lý để bảo vệ tính bền vững của quỹ :   

  • Khung mức đóng: Mức tiền lương lựa chọn phải nằm trong khoảng từ mức tham chiếu (thấp nhất) đến 20 lần mức tham chiếu (cao nhất) tại thời điểm đóng.   
  • Thời hạn thay đổi: Để tránh việc thay đổi quá thường xuyên gây khó khăn cho quản lý, Luật quy định người lao động chỉ được lựa chọn lại tiền lương làm căn cứ đóng sau ít nhất 12 tháng thực hiện đóng theo mức đã chọn trước đó.   
  • Thủ tục đăng ký: Người lao động sử dụng Mẫu TK1-TS để kê khai và điều chỉnh thông tin mức đóng với cơ quan bảo hiểm xã hội.   

Quy định này cho phép người lao động, ví dụ như một chủ hộ kinh doanh, có thể chọn mức đóng cao khi công việc kinh doanh thuận lợi để nhận mức lương hưu cao sau này, hoặc giảm mức đóng xuống sàn tham chiếu khi gặp khó khăn tài chính mà vẫn đảm bảo được cộng dồn thời gian tham gia bảo hiểm.

5. Giới hạn mức tiền lương đóng tối thiểu và tối đa

Việc quy định mức sàn và mức trần cho tiền lương đóng bảo hiểm xã hội là công cụ kỹ thuật then chốt để đảm bảo tính ổn định của hệ thống an sinh xã hội. Giới hạn này giúp kiểm soát khoảng cách giữa người hưởng lương hưu thấp nhất và cao nhất, đồng thời ngăn chặn các biến động quá lớn đối với quỹ bảo hiểm.

5.1. Mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất 

Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu. Mức tham chiếu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cải cách tiền lương.

Tại thời điểm ngày 1 tháng 7 năm 2025, nếu mức lương cơ sở vẫn còn hiệu lực và chưa bị bãi bỏ, mức tham chiếu được xác định tạm thời bằng mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng. Đối với người lao động làm công việc giản đơn tại các doanh nghiệp, mức tiền lương đóng thực tế thường không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, vốn cao hơn mức tham chiếu.

5.2. Mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội cao nhất 

Để đảm bảo tính cân đối và công bằng xã hội, Luật quy định mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tối đa bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng. Giả định với mức tham chiếu 2.340.000 đồng, mức trần đóng bảo hiểm xã hội được tính toán như sau:

2.340.000 x 20 = 46.800.000 (đồng/tháng)

Quy định này có tác động trực tiếp đến những người lao động có thu nhập cao (ví dụ quản lý cao cấp, chuyên gia nước ngoài). Dù mức lương thực tế có thể lên tới hàng trăm triệu đồng, căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng chỉ dừng lại ở mức 46,8 triệu đồng. Ngược lại, đối với Bảo hiểm thất nghiệp, mức trần vẫn được tính theo 20 lần mức lương tối thiểu vùng, tạo ra một ranh giới tính toán khác biệt cần lưu ý cho bộ phận nhân sự và kế toán.

5.3. Bảng tổng hợp các giới hạn đóng bảo hiểm xã hội 

Loại giới hạn Công thức áp dụng Giá trị dự kiến (VND)
Mức tham chiếu cơ sở Quyết định bởi Chính phủ 2.340.000
Căn cứ đóng tối thiểu 1 x Mức tham chiếu 2.340.000
Căn cứ đóng tối đa 20 x Mức tham chiếu 46.800.000
Tiền đóng thấp nhất (8%) 8% x Mức tham chiếu 187.200
Tiền đóng cao nhất (8%) 8% x 20 lần Mức tham chiếu 3.744.000

Việc sử dụng mức tham chiếu thay cho lương cơ sở cho phép Chính phủ có sự linh hoạt trong việc điều chỉnh "sàn" và "trần" đóng bảo hiểm dựa trên thực trạng kinh tế và sức khỏe của quỹ bảo hiểm mà không bị bó hẹp bởi bảng lương khu vực hành chính nhà nước.

6. Thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng vai trò là "tầng thứ hai" trong hệ thống an sinh đa tầng, dành cho những người không thuộc diện bắt buộc như lao động tự do, nông dân và người nội trợ. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 duy trì cơ chế linh hoạt về thu nhập đóng nhưng thiết lập các giới hạn đồng bộ với hệ thống bắt buộc.

6.1. Xác định thu nhập làm căn cứ đóng

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được quyền lựa chọn mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng, trong đó giới hạn được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 :

  • Mức thấp nhất: Bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Hiện tại, theo quy định về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, mức chuẩn hộ nghèo nông thôn là 1.500.000 đồng/tháng.
  • Mức cao nhất: Bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng (tương đương 46.800.000 đồng).

Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng lựa chọn vào quỹ hưu trí và tử tuất.

6.2. Cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước

Để khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng theo các tỷ lệ khác nhau tùy theo đối tượng. Mức hỗ trợ này được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng hằng tháng tính theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn :

Nhóm đối tượng Tỷ lệ hỗ trợ (%) Số tiền hỗ trợ (VND/tháng)
Người thuộc hộ nghèo 30% 99.000
Người thuộc hộ cận nghèo 25% 82.500
Các đối tượng khác 10% 33.000

Người tham gia sẽ nộp số tiền đóng sau khi đã trừ đi phần Nhà nước hỗ trợ. Ví dụ, đối với người lao động tự do thông thường chọn đóng mức thu nhập 2.000.000 đồng/tháng, số tiền nộp hàng tháng sẽ là: (2.000.000 x 22%) - 33.000 = 407.000 đồng. Việc duy trì hỗ trợ này trong thời gian tối đa 10 năm là nỗ lực của Nhà nước nhằm gia tăng diện bao phủ an sinh.

6.3. Điểm mới về quyền lợi trong bảo hiểm tự nguyện

Một thay đổi quan trọng của Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 là việc bổ sung chế độ thai sản vào chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện. Mức trợ cấp thai sản là 2.000.000 đồng cho mỗi con khi sinh ra hoặc khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, do ngân sách nhà nước bảo đảm. Điều này làm thay đổi bản chất của bảo hiểm tự nguyện, từ chỗ chỉ có hưu trí và tử tuất sang một hệ thống có tính bảo vệ cao hơn đối với lao động nữ trong khu vực phi chính thức.

Kết luận

Như vậy, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội giữ vai trò trung tâm trong việc xác định mức đóng góp và mức thụ hưởng các chế độ an sinh của người lao động. Những quy định mới đã từng bước hoàn thiện cơ chế tính đóng theo hướng sát với thu nhập thực tế, hạn chế tình trạng lách luật, chia nhỏ thu nhập để giảm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội. Điều này không chỉ bảo đảm quyền lợi chính đáng, lâu dài cho người lao động mà còn tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ lao động. Khi tiền lương được kê khai đầy đủ và minh bạch, quỹ bảo hiểm xã hội sẽ có nguồn thu ổn định, từ đó nâng cao khả năng chi trả và bảo đảm an toàn tài chính của hệ thống. Bên cạnh đó, việc thực hiện đúng quy định còn góp phần tăng cường kỷ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết chế độ. Vì vậy, cả người lao động và người sử dụng lao động cần chủ động cập nhật chính sách mới, nhận thức rõ trách nhiệm của mình và phối hợp chặt chẽ trong việc xác định, kê khai, đóng bảo hiểm xã hội đúng mức. Chỉ khi mỗi bên đều tuân thủ nghiêm túc, chính sách bảo hiểm xã hội mới phát huy hiệu quả thực chất, trở thành điểm tựa an sinh bền vững, bảo vệ thu nhập và cuộc sống của người lao động trước những rủi ro của cuộc đời và trong giai đoạn tuổi già.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.