- Khẳng định sai. Bởi vì:
Căn cứ phân loại tội phạm theo Khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 là dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội phạm đó chứ không phải căn cứ vào mức hình phạt cụ thể Tòa án đã tuyên phạt trong bản án.
Luật Minh Khuê phân tích câu hỏi "Căn cứ phân loại tội phạm theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 là căn cứ vào mức hình phạt do Tóa án áp dụng đối với người phạm tội ?" để trả lời câu hỏi trên chúng ta phải đi vào phân tích các vấn đề sau:
1. Phân loại tội phạm là gì?
- Trước hết phải khẳng định tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Việc phân loại tội phạm là hết sức quan trọng và cần thiết vì những lý do sau:
+ Để sắp xếp, hệ thống hóa các tội phạm trong Bộ luật Hình sự theo từng chương, bảo đảm tính khoa học, thuận lợi cho công tác nghiên cứu và áp dụng.
+ Để xác định tội phạm theo tính chất và mức độ nguy hiểm, từ đó quy định hình phạt và áp dụng hinhg phạt.
+ Để áp dụng biện pháp ngăn chặn do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định cho phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
+ Để xác định thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn xóa án tích cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của các tội phạm cụ thể, ...
- Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
+ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Như vậy đây là một điểm tiến bộ so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2019. Bộ luật Hình sự năm 2019 chỉ căn cứ vào mức hình phạt tù có thời hạn không quá 3 năm nên không bao quát được hết các khung hình phạt.
+ Tôi phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù.
Ví dụ: Tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 148 và tội cưỡng dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù.
Ví dụ: Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới theo quy định tại khoản 2 Điều 189 và tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Ví dụ: Tội phản bội tổ quốc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 108 và tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc xử lý, quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp, ... Phân loại tội phạm còn là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quy định khung hình phạt, bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt. Ngoài ra việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Việc phân loại tội phạm hình sự không chỉ là căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể mà còn để xây dựng các khung hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể trong Bộ luật này phù hợp với chính sách hình sự của nhà nước. Đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan tố tụng nhận thức đúng và áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự trong thực tiễn xét xử.
>> Xem thêm: Phân loại cấu thành tội phạm? Ý nghĩa của cấu thành tội phạm?
2. Mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội là gì?
- Hình phạt là cơ sở xác định tội phạm cũng như xác định hình phạt đối với hành vi phạm tội. Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Đây là cơ sở cho việc xây dựng các khung hình phạt của tội phạm cụ thể và thể hiện sự phân hóa ở các nhóm tội phạm khác nhau.
- Mức hình phạt là các mức áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.
- Như vậy có thể hiểu mức hình phạt sẽ dựa vào hành vi vi phạm hay dấu hiệu lỗi của tội phạm mà Tòa án sẽ đưa ra mức hình phạt thích đáng.
Khẳng định: Căn cứ phân loại tội phạm theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 là căn cứ vào mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội ? là đúng hay sai? Tại sao?
Qua các ví dụ và phân tích ở trên chúng ta có thể kết luận khẳng định trên là sai.
- Vì căn cứ vào Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự. Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt (do trực tiếp các điều luật quy định) còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải là căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!