- 1. Cơ sở pháp lý
- 2. Tiêu chuẩn xác định nghề, công việc (đặc biệt) nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
- 2.1. Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
- 2.2. Tiêu chuẩn về đặc điểm của điều kiện lao động
- 2.3. Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vạt đối với người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại, nguy hiểm
- 3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin về điều kiện sức khỏe của NLĐ trước khi giao kết HĐLĐ
Thưa luật sư, để xác định doanh nghiệp có hoạt động thuộc nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có phải dựa vào ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Hay chỉ dựa vào danh mục nghề, công việc độc hại, nguy hiểm, nặng nhọc do BLĐTBXH quy định là được? Trường hợp ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp không có nhưng thực tế có người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đó thì giải quyết như thế nào? Rất mong nhận được giải đáp thấu đáo. Tôi xin chân thành cảm ơn!
1. Cơ sở pháp lý
- Bộ luật lao động 2019
- Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
- Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH
2. Tiêu chuẩn xác định nghề, công việc (đặc biệt) nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
2.1. Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Danh mục công việc (đặc biệt) nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được ban hành tại Thông tư 11/2020/TT_BLĐTBXH.
Thực tế để xác định người lao động có làm nghề, công việc thuộc danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không đương nhiên phải xem xét tính liên quan giữa ngành nghề mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Ví dụ: Doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành nghề kinh doanh là sản xuất giày dép thì có thể áp công việc "phết keo đế và mũ giày" thuộc ngành sắt tráng men, nhựa, tạp phẩm, da, giày, giấy, gỗ, diêm theo quy định tại mục IX.29 của Danh mục được ban hành kèm theo tại Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020.
Chức danh, công việc của người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải trùng khớp với các công việc được nêu trong danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đồng thời, trong danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế khi thực hiện việc đăng ký phải kê khai đầy đủ chức danh, công việc theo danh mục các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/đặc biệt nặng nhọc ,độc hại, nguy hiểm mà pháp luật quy định và theo hướng dẫn chi tiết của cơ quan bảo hiểm có thẩm quyền vì nếu tên chức danh của người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không khớp với tên theo luật định và theo hướng dẫn riêng của cơ quan bảo hiểm thì cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền có thể không chấp nhận cho người lao động được hưởng các chế độ đối với người lao động làm các công việc nặng nhọc, đọc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Khi đó, doanh nghiệp lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh tên chức danh cho người lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội để có thể đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
2.2. Tiêu chuẩn về đặc điểm của điều kiện lao động
Điều kiện lao động của công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thực tế tại doanh nghiệp phải giống với các điều kiện lao động trong danh mục các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật
Ví dụ công việc "vận hành máy đóng cọc xây dựng công trình" phải có đặc điểm điều kiện công việc là "làm việc ngoài trời, công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc dầu mỡ, ồn, tư thế làm việc gò bó tại mục V.8 Danh mục ban hành tại Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH.
Để xác định được tiêu chuẩn về khí hậu, bụi và các nhân tố môi trường khác được dựa trên các văn bản của pháp luật như sau:
- Tiêu chuẩn về nồng độ bụi trong không khí xem tại Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2012
- Tiêu chuẩn về chỉ số chất độc hại trong không khí xem tại QCVN 06: 2009/BTNMT
- Tiêu chuẩn rung cho phép xem tại Thông tư 27/2016/TT-BYT của BYT ngày 30/6/2016
- Tiêu chuẩn tiếng ồn cho phép xem tại Thông tư 24/2016/TT-BYT của Bộ y tế ngày 30/6/2016
- Tiêu chuẩn khí hậu cho phép xem tại Thông tư 26/2016/TT-BYT của Bộ y tế ngày 30/6/2016
Đối với yếu tố nguy hiểm, có hại nêu trên đã được Bộ trưởng Bộ y tế quy định giới hạn tiếp xúc cho phép để hạn chế tác hại đối với sức khỏe người lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại ít nhất một năm một lần thông qua thuê đơn vị tổ chức có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ quan trắc môi trường lao động theo quy định của pháp luật.
Nêu sau khi tra cứu tất cả danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được liệt kê tại các văn bản pháp luật do Bộ lao động Thương binh và Xã hội ban hành mà không tìm được công việc phù hợp với ngành nghề kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên thực tế có thực hiện những công việc này nhưng lại không có trong danh mục và xét thấy cần được bổ sung để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người lao động thì người sử dụng lao động phải tiến hành soạn thảo công văn gửi cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền và Bộ lao động thương binh và xã hội để được xem xét bổ sung trước khi thực hiện.
2.3. Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vạt đối với người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại, nguy hiểm
Điều kiện được hưởng
Người lao động sẽ được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện bật khi đáp ứng đủ tất các các điều kiện sau đây:
- Làm các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ lao động Thương binh và Xã hội ban hành. Việc xác định người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được thực hiện theo các tiêu chuẩn nêu tại mục 2;
- Đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của Bộ y tế hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm. Việc xác định người lao động đang làm việc trong môi trường có các yếu tố nguy hiểm, độc hại hay không sẽ được dựa vào kết quả quan trắc môi trường lao động do đơn vị đủ điều kiện đo, kiểm tra môi trường lao động theo quy định thực hiện.
Việc bồi dưỡng bằng hiện bật này là quyền lợi mà người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng nhằm bù đắp một phần nào những khó khăn cũng như thiệt hại mà người lao động ghánh phải trong quá trình lao động tại doanh nghiệp đồng thời khích lệ và động viên người lao động tiếp tục làm tốt công việc của mình để giữ vững năng suất lao động. Do đó, để đảm bảo cho người lao động có được những quyền lợi mà họ được hưởng, người sử dụng lao động cần thường xuyên thực hiện việc quan trắc môi trường lao động nếu doanh nghiệp có người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Về mặt nguyên tắc, người sử dụng lao động phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật , tăng cường các thiết bị an toàn và vệ sinh lao động để cải thiện điều kiện lao động; khi chưa thể khắc phục được hết các yếu tố nguy hiểm, độc hại thì phải tổ chức bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động để ngăn ngừa bệnh tạt và bảo đảm sức khỏe cho họ. Khi người sử dụng lao động áp dụng các biện pháp kỹ thuật tăng cường thiết bị an toàn lao động và cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm không còn yếu tố nguy hiểm, độc hại thì dừng thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động (Thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại).
Mức bồi dưỡng bằng hiện vật
Mức bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động được tính dựa trên loại nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trong mỗi văn bản pháp luật quy định danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm/ đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đều có phân loại công việc nào là công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cụ thể là loại IV, V, VI. Cùng một ngành nghề có thể vừa có công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm loại IV và vừa có công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm loại V, VI, tùy thuộc vào điều kiện làm việc và mức độ nặng nhọc, nguy hiểm của mỗi công việc.
3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin về điều kiện sức khỏe của NLĐ trước khi giao kết HĐLĐ
Thưa luật sư, người lao động có phải cung cấp thông tin về điều kiện sức khỏe và chịu các hci phí kiểm tra sức khỏe trước khi giao kết hợp đồng lao động với công ty không?
Trước đây theo quy định tại Bộ luật lao động cũ năm 2012, khi người sử dụng lao động có yêu cầu, người lao động phải cung cấp cho người sử dụng lao động thông tin về điều kiện sức khỏe của người lao động trước k hi giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực trên tinh thần vẫn giữ các nội dung ở trên nhưng luật lại không dùng từ "trước khi giao kết hợp đồng lao động" mà là "khi giao kết hợp đồng lao động" (Điều 16).
Do đó, có thể hiểu rằng nghĩa vụ cung cấp thông tin cảu người lao động được đặt ra khi người sử dụng lao động có yêu cầu chứ không nhất thiết phải là trước khi giao kết hợp đồng lao động. Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý, thông tin về điều kiện sức khỏe của người lao động phải được cung cấp dưới hình thức giấy chứng nhận sức khỏe theo mẫu quy định của Bộ y tế.
Trách nhiệm chịu chi phí kiểm tra sức khỏe trước khi NLĐ giao kết HĐLĐ với công ty
Theo quy định của pháp luật, tổ chức hay cá nhân nào có đề nghị khám sức khỏe thì phải trả chi phí khám sức khỏe cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thảm quyền. Theo quy định của Bộ luật lao động, người lao động có nghĩa vụ cung cấp giấy chứng nhận sức khỏe cho người sử dụng lao động nên chính người lao động sẽ là người yêu cầu cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền khám sức khỏe và do vậy chi phí khám sức khỏe này do người lao động chi trả.
Theo quy định tại Điều 21 Luật an toàn vệ sinh lao động thì hàng năm người sử dụng lao động có nghãi vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Trường hợp khám sức khỏe định kỳ cho người lao động thì theo quy định tại Thông tư 14/2013/TT-BYT thì người sử dụng lao động lại là bên yêu cầu cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền thực hiện việc khám sức khỏe và do đó, trong trường hợp này người sử dụng lao động có nghĩa vụ thanh toán chi phí.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)