1. Cảnh sát giao thông có được gửi quyết định xử phạt về cơ quan, công ty hay không?

Theo quy định của Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính, biên bản phải được lập trong thời hạn 02 ngày làm việc. Trong khoảng thời gian này, người có thẩm quyền phải chuyển quyết định xử phạt đến cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để tiến hành thi hành.

Đồng thời, theo Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra yêu cầu rằng mọi cán bộ, đảng viên vi phạm giao thông phải nhận thông báo và chấp hành quy định của Đảng, từng ngành, cơ quan, đơn vị. Trong quá trình xử lý các vi phạm giao thông, tôn trọng và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật là điều tối cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tất cả các hành vi vi phạm giao thông đều phải chịu xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Nghiêm cấm mọi cán bộ, đảng viên can thiệp, ảnh hưởng đến quá trình xử lý vi phạm giao thông của cơ quan chức năng. Cũng nghiêm cấm lực lượng chức năng "xuê xoa", bỏ qua trọng xử lý vi phạm dưới mọi hình thức. Bên cạnh đó, quyết liệt thực hiện khởi tố, điều tra, xử lý nghiêm các vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm và đối tượng chống người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.

Do đó, trong trường hợp cán bộ, đảng viên, cảnh sát giao thông vi phạm giao thông, họ sẽ phải gửi quyết định xử phạt về cơ quan để xử lý theo quy định của Đảng, từng ngành, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, đối với những cá nhân không thuộc diện cán bộ, đảng viên, công chức, cảnh sát giao thông thường không thực hiện việc gửi quyết định xử phạt về nơi làm việc của họ.

Dựa trên Điều 70 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đối với quy trình xử lý vi phạm hành chính liên quan đến vi phạm giao thông, sau khi biên bản vi phạm đã được lập, cơ quan Công an sẽ đưa ra quyết định xử phạt và gửi nó đến địa chỉ cư trú của người vi phạm. Địa chỉ này có thể là thông tin do người vi phạm tự khai khi lập biên bản hoặc cơ quan Công an sẽ sử dụng địa chỉ từ thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân.

Liên quan đến việc Cảnh sát Giao thông (CSGT) sẽ thông báo cho cơ quan nơi người vi phạm đang công tác để cơ quan đó xử lý theo quy định của mình, thực hiện hành động này không vi phạm quy định của pháp luật. Nguyên do là người vi phạm, sau khi bị xử phạt hành chính, có thể phải đối mặt với quy trình xử lý nội bộ theo quy định của cơ quan mà họ đang làm việc.

Thông báo mà CSGT gửi có tính chất thông tin, giúp cơ quan nơi Đảng viên, cán bộ, công chức đang công tác biết được thông tin về vi phạm của người quản lý của họ, từ đó có thể xử lý theo quy định nội bộ. Hành động gửi thông báo trao đổi thông tin giữa hai cơ quan nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật và không bị cấm.

Vì vậy, khi vi phạm giao thông, Đảng viên, cán bộ, công chức không chỉ đối mặt với xử phạt hành chính mà còn có thể bị cơ quan của mình xử lý với các biện pháp như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, hoặc buộc thôi việc theo quy định tại Điều 79 của Luật Cán bộ công chức năm 2008.

Bổ sung vào đó, Điều 35 của Điều lệ Đảng cũng quy định những biện pháp kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ đối với đảng viên, trong khi Điều 78 của Luật Cán bộ công chức năm 2008 áp dụng cho cán bộ với các hình thức kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm.

2. Những hình thức gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính        

Dựa trên Điều 70 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thể được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện theo hình thức bảo đảm, và cần thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt.

Tuy nhiên, trong trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân hoặc tổ chức vi phạm chủ ý không nhận quyết định, người có thẩm quyền sẽ lập biên bản về việc không nhận quyết định, có xác nhận từ chính quyền địa phương và đây sẽ được coi là quyết định đã được giao.

Nếu quyết định được gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, và sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định xử phạt, một trong các trường hợp sau đây xảy ra, thì quyết định được coi là đã được giao:

- Gửi qua đường bưu điện và bị trả lại lần thứ 3 do cá nhân hoặc tổ chức vi phạm chủ ý không nhận.

- Niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức bị xử phạt.

- Có căn cứ cho rằng người vi phạm đang trốn tránh, từ chối nhận quyết định xử phạt.

3. Trình tự giải quyết, xử lý vi phạm giao thông đường bộ quy định thế nào?

Ngày 01/8/2023, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký ban hành Thông tư số 32/2023/TT-BCA, chi tiết hóa nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung, và quy trình liên quan đến tuần tra, kiểm soát, cũng như xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Thông tư này sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2023.

Điều 27 trong Thông tư 32/2023/TT-BCA mô tả trình tự giải quyết và xử lý vi phạm giao thông tại trụ sở của Cảnh sát giao thông như sau:

(1) Khi người vi phạm đến giải quyết vi phạm, họ sẽ thực hiện các bước như sau:

- Tiếp nhận biên bản vi phạm hành chính từ người vi phạm và so sánh với hồ sơ vi phạm (nếu biên bản bị mất, kiểm tra kỹ thông tin về nhân thân của người vi phạm với hồ sơ vi phạm); không giải quyết đối với người trung gian (trừ trường hợp được ủy quyền theo quy định của pháp luật) hoặc ngoài vị trí quy định giải quyết vi phạm của đơn vị.

- Đối với các vụ vi phạm cần xác minh, báo cáo và đề xuất tổ chức xác minh cho người có thẩm quyền.

- Thông báo hình thức, mức xử phạt, biện pháp ngăn chặn, và các biện pháp khác, cũng như kết quả thu thập hành vi vi phạm thông qua phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định.

- Giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho người bị xử phạt hoặc người đại diện hợp pháp, người được ủy quyền.

- Tiếp nhận, kiểm tra, và so sánh biên lai thu tiền phạt (hoặc chứng từ thu, nộp tiền phạt khác theo quy định của pháp luật) với hồ sơ vi phạm hành chính, sau đó lưu hồ sơ.

- Trả lại tang vật, phương tiện, giấy tờ bị tạm giữ theo thủ tục hành chính (ngoại trừ trường hợp bị tước quyền sử dụng hoặc bị tịch thu) theo quy định của pháp luật.

- Đối với các vụ vi phạm liên quan đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, kiểm tra và so sánh thông tin trên giấy thông báo với giấy tờ tùy thân của người vi phạm; cho người vi phạm xem kết quả thu thập hành vi vi phạm qua phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; lập biên bản vi phạm hành chính và thực hiện xử lý theo quy định.

(2) Nếu người vi phạm thực hiện việc nộp tiền xử phạt qua Cổng dịch vụ công Quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an:

- Người có thẩm quyền xử phạt sẽ gửi thông tin xử phạt lên Cổng dịch vụ công, và Cổng dịch vụ công sẽ tự động thông báo cho người vi phạm qua số điện thoại đã đăng ký với cơ quan Công an tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.

- Người vi phạm có thể truy cập Cổng dịch vụ công bằng số quyết định xử phạt hoặc số biên bản vi phạm để tra cứu thông tin quyết định xử phạt; nộp tiền xử phạt, và đăng ký nhận lại giấy tờ bị tạm giữ qua dịch vụ bưu chính công ích.

- Người có thẩm quyền xử phạt có thể tra cứu biên lai điện tử thu tiền xử phạt vi phạm hành chính qua hệ thống Cổng dịch vụ công để in, lưu hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, và làm căn cứ trả lại giấy tờ bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.

- Người có thẩm quyền xử phạt trả lại giấy tờ bị tạm giữ, hoặc tước quyền sử dụng khi hết hạn cho người vi phạm qua dịch vụ bưu chính công ích.

(3) Trong trường hợp người vi phạm sử dụng dịch vụ bưu chính công ích để nộp phạt vi phạm hành chính, thì họ sẽ thực hiện theo quy định được đề cập tại Điều 20 của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

(4) Nếu người vi phạm không tuân theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc không đến giải quyết vụ việc vi phạm trong thời hạn hẹn được ghi trong biên bản vi phạm hành chính hoặc trong thông báo của người có thẩm quyền xử phạt, đặc biệt là khi chủ phương tiện hoặc người vi phạm không đến giải quyết và xử lý (đối với phương tiện giao thông có yêu cầu kiểm định), người có thẩm quyền xử phạt sẽ gửi thông báo đến cơ quan Đăng kiểm để họ hợp tác xử lý theo quy định được nêu tại Nghị định số 139/2018/NĐ-CP (đã được sửa đổi và bổ sung theo Nghị định số 30/2023/NĐ-CP) và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP (đã được sửa đổi và bổ sung theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP).

Bài viết liên quan: Thời hạn ra quyết định xử phạt giao thông sau khi lập biên bản?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!