1. Giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.
- Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.
- Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, không phải để đăng ký kết hôn, thì người yêu cầu không phải đáp ứng điều kiện kết hôn; trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ mục đích sử dụng, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn. Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp theo yêu cầu.
Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.
2. Cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có phải làm văn bản cam đoan?
Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại khoản 1 Điều 12 Thông tư 04/2020/TT-BTP như sau:
Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 21, Điều 22, Điều 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:
- Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này.
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.
Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.
Theo quy định, khi yêu cầu đăng ký kết hôn, người yêu cầu phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.
- Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh.
- Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân.
Như vậy, việc lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân chỉ phải thực hiện khi người yêu cầu không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
>> Xem thêm: Mẫu bản cam đoan mới nhất và Cách ghi bản cam đoan
3. Quy định về cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho đối tượng đặc biệt
- Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam đã hoặc đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài: Trường hợp công dân Việt Nam có thời gian cư trú ở nước ngoài, nay về thường trú tại Việt Nam, yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại UBND cấp xã, thì người đó có trách nhiệm chứng minh tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú ở nước ngoài. Trường hợp người đó không chứng minh được tình trạng hôn nhân của mình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã vận dụng quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về việc không cung cấp được giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân và cam đoan về thời gian, nơi cư trú, tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú ở nước ngoài.
- Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đang công tác trong lực lượng vũ trang. Trong trường hợp này nơi cư trú của cán bộ, chiến sĩ đang học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang là nơi đơn vị đóng quân được xác định theo quy định tại Điều 15 Luật cư trú năm 2020.
- Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã chết thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết, vì Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về trường hợp này. Tuy nhiên, tại Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, người đã chết thì không thể thực hiện được, nên công chức hộ tịch có thể vận dụng quy định này để từ chối giải quyết yêu cầu.
- Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
4. Một số điểm mới của Thông tư 04/2020/TT-BTP
Thông tư 04/2020/TT-BTP có nhiều vấn đề gợi mở, đẩy “gánh nặng” về phía cơ quan nhà nước, như việc xác minh trình trạng hôn nhân của người yêu cầu khi yêu cầu cấp lại; đồng cũng đòi hỏi người dân đảm bảo sự trung thực, trách nhiệm pháp lý trong việc cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình, chứ không phải cam đoan cho có. Vì thực tế vẫn có những trường hợp dù đã đăng ký kết hôn nhưng vẫn cam đoan tại Sở Tư pháp là chưa đăng ký kết hôn, để thực hiện giao dịch nào khác.
Chẳng hạn, Theo quy định Luật hộ tịch 2014 và nghị định 123/2015/NĐ-CP, người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau phải tự chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình.
Nếu không thể chứng minh được thì cán bộ tư pháp hộ tịch của phường sẽ "báo cáo chủ tịch UBND cấp xã có văn bản đề nghị UBND cấp xã nơi người này đã từng đăng ký thường trú kiểm tra xác minh.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, UBND cấp xã nơi đã từng đăng ký thường trú của người này phải trả lời bằng văn bản về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.
Tuy vậy, thời gian qua việc người dân phải chờ gửi văn bản xác minh, chờ có kết quả xác minh để được làm cam đoan mà không có thời hạn cụ thể đã gây ra nhiều khó khăn cho người dân. Vì vậy, Thông tư 04/2020/TT-BTP đã gỡ vướng khi quy định “sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định.
Xem thêm: Khai báo sai để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bị xử lý như thế nào?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có phải làm văn bản cam đoan? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!