1. Người thi hành công vụ là những ai?

Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/ND ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985 đã giải thích: " Người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ( Như: tuần tra, canh gác...) theo kế hoạch của cơ aun có thẩm quyền phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội"

Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước. Theo quy định của pháp luật thì tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích, tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nghị định số 208/2013/ND-CP ngày 17/12/2013 của chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ xác định: " Người thi hành công vụ là các bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thoe quy định của pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội" ( Điều 3 Khoản 1)

Điều 3, khoản 2 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 quy định : “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”.

So với khái niệm tại Nghị định số 208/2013/NĐ-CP thì khái niệm "người thi hành công vụ" tại Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 có sự mở rộng hơn. Ngoài nhóm người" được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm..." thì còn bao gồm " người khác" là những người không phải là các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân nhưng được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Họ có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ như tuần tra, canh gác,... theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền.

 

2. Những dấu hiệu cơ bản cấu thành tội chống người thi hành công vụ

2.1 Khách thể tội chống người thi hành công vụ

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ đã được xác định tại khoản 1 điều 8 BLHS 2015. Được quy định tại điều 330 BLHS 2015, cụ thể: tội chống người thi hành công vụ đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước, gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Quan hệ xã hội bị tội chống người thi hành công vụ xâm hại liên quan treuwjc tiếp đến các hoạt động công vụ do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Trong CTTP cơ bản tới tội chống người thi hành công vụ, các nhà làm luật không mô tả cụ thể khách thể của tội mà chỉ mô tả đối tượng tác động của tội phạm, đó chính là chủ thể của quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm

+ Đối tượng tác động của tội phạm này là người đang thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lý lĩnh vực hành chính Nhà nước nhất định (cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng... ).

+ Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi của người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

Ví dụ:  TAND huyện X tiến hành định giá tài sản đang tranh chấp giữa nguyên đơn bà S và bị đơn Ông Nguyễn Viết C. Đoàn định giá tài sản gồm ông Nguyễn Văn A- Thẩm phám TAND huyện X( là người được phân công giải quyết vụ án), ông Nguyễn tài B - Thư ký Toàn án cùng một số thành viên của Hội đồng định giá tài sản có mặt tại nhà của bà S và ông C để định giá ngôi nhà. Do chưa có mặt chính quyền địa phương và Chủ tịch hội đồng định giá nên đoàn công tác ngồi chờ ở bàn uống nước. Lúc này, ông Nguyễn Viết C là bị đơn đi từ tầng 2 của ngôi nhà xuống gặp đoàn công tác, ông C yêu cầu đoàn công tác giới thiệu tên, tuổi, chức vụ, đơn vị công tác, mục đích đến làm việc và không có đại diện chính quyền địa phương nên C đã hất cốc nước Socola vào người ông A làm nước Socola dính ở phần áo trước ngực ông A. Đối với sự việc này, Hội đồng định giá tài sản chưa đủ thành phần , việc định giá chưa được diễn ra, hành vi của ông C chưa tác động đến người đang thi hành công vụ( là những người trong đoàn định giá tài sản) do vậy hành vi này chưa xâm phạm đến người thi hành công vụ.  

 

2.2 Mặt khách quan tội chống người thi hành công vụ

- Hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật: là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người đang thi hành công vụ như đấm, đá, đâm, chém…làm cho người thi hành công vụ không thực hiện được nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi mà pháp luật cấm hoặc không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc họ phải làm.

- Hành vi đe dọa dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật: là hành vi dùng lời nói, cử chỉ, hành động đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ nếu họ vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật theo yêu cầu của người phạm tội. Việc dùng vũ lực có thể được thực hiện ngay tức khắc hoặc không xảy ra ngay tức khắc. Hành vi đe dọa dùng vũ lực phải đến mức làm cho người thi hành công vụ tin rằng nếu họ vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật theo yêu cầu của người phạm tội, thì hành vi dùng vũ lực sẽ xảy ra.

- Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật: là hành vi không phải dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, mà bằng thủ đoạn khác như đe dọa sẽ công khai các thông tin liên quan đến bí mật gia đình, bí mật cá nhân, đe dọa gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản của người thi hành công vụ hoặc người thân thích của họ nếu họ không ngừng thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật.

Ví dụ: Vào khoảng 19 giờ, ngày 24/11/2020, nhận được tin báo từ người dân về việc Nguyễn Văn H có hành vi gây rối trật tự tại nhà chị Tống thị T. anh Trần văn T và anh Nguyễn Thanh Nh là công an viên của xã được phân công đi xác minh sự việc . Khi đến nơi, anh T khuyên H không la lối, chửi bới nhưng H đã có hành vi la lối, thách thức đánh nhau với anh T. Anh T khuyên ngăn và kêu H đi về nhà thì liền bị H dùng tay đánh nhiều cái vào đầu. Sau đó, H bị anh T cùng người dân bắt, khống chế đưa về trụ sở công san xã để làm việc. Trong vụ án trên, Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng vũ lực  dùng tay đánh vào đầu ) anh Trần Văn T khi anh T nhắc nhở về việc H có hành vi gây rối trật tự tại nhà chị T. Hành vi dùng vũ lực của H tuy chưa gây ra thương tích cho anh trần Văn T nhưng đã cản trở anh t thực hiện nhiệm vụ. Mặc dù vậy, anh t vẫn tiếp tục thực chiện công vụ và hoàn thành nhiệm vụ theo đúng quy định.

 

2.3 Mặt chủ quan tội chống người thi hành công vụ

Đối với tội chống người thi hành công vụ, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lwujc hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc éo buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Tội chống người thi hành công vụ là tội có CTTP hình thức, hậu quả thiệt hại không phải là dấu hiệu bắt buộc nên chỉ cần xác định chủ thể nhận thức được tính gây thiệt hại cho xã hội của hành vi mà vẫn thực hiện hành vi đó thì bị coi là trường hợp lỗi cố ý trực tiếp.

Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp pháp của người đang thi hành công vụ thì tùy trường hợp cụ thể mà xác định người đó có lỗi hay không. tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người phạm tội trong những trường hợp này cần phải cẩn trọng . Bởi trên thực tế, nhiều trường hợp người phạm tội tuy nhận thức rõ ràng mà họ trực tiếp tác động là người đang thi hành công vụ những vẫn cố tình thực hiện là mình không biết.

Đối với tội chống người thi hành công vụ, dấu hiệu mục đích phạm tội không phải là dáu hiệu bắt buộc. Do đó, dù người phạm tội thực hiện hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm mục đích gì đều có thể bị truy cứu TNHS về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 330 năm 2015 thì động cơ phạm tội không được mô tả trong CTTP của tội chống người thi hành công vụ. Điều đó có nghĩa là động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này nên khi định tội danh đối với người phạm tội, dấu hiệu động cơ phạm tội không cần phải xem xét. trên thực tế, động cơ của người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ có thể là động cơ cá nhân, vụ lượi, trốn tránh nghĩa vụ, ích kỷ, trả thù,...

 

2.4 Chủ thể tội chống người thi hành công vụ

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong BLHS. Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội.

Khoản 2 điều 12 BLHS 2015 quy định: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi" phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong quy định tại một trong các    điều 123,134,141,142,143,144,150,151,168,169,170, 171,173,178,248,249,250,251,252,265,266,286,287,289,290,299,300 và 304 của Bộ luật này". Điều luật đã giới hạn phạm vi loại tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi trở lên nưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS. Ở độ tuổi này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ phải chịu TNHS về tội được quy định tại điều 28 điều luật đã được xác định và phải thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong số những điều luật được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 không có Điều 330.
 

Do đó, có thể các định chủ thể của tội chống người thi hành công vụ phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không thuộc tình trạng không có năng lực TNHS theo quy định tại Điều 21 BLHS 2015. Chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là chủ thể thường, do đó, chỉ cần thỏa mãn điều kiện từ đủ 16 tuổi trở lên và không thuộc tình trạng không có năng lực TNHS theo quy định tại điều 21 BLHS 2015 thì ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

 

3. Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với một số tội khác có liên quan đến người thi hành công vụ

- Với trường hợp giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân quy định tại điểm d khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015

Cả hành vi chống người thi hành công vụ và hành vi giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân đều xâm phạm đến người thi hành công vụ và thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, hành vi chống người thi hành công vụ được thực hiện khi người thi hành công vụ đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan có thẩm quyền giao, tức là đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc; còn hành vi giết người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 được thực hiện khi nạn nhân đang thi hành công vụ hoặc không phải lúc họ đang thi hành công vụ mà có thể trước hoặc sau đó. Nếu hành vi chống người thi hành công vụ không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người thi hành công vụ, thì hành vi giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân lại gây ra thiệt hại về tính mạng cho người thi hành công vụ.

- Với trường hợp gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015

Cả hành vi chống người thi hành công vụ và hành vi cố ý gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân đều xâm phạm đến người thi hành công vụ và thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, nếu chống người thi hành công vụ mà chưa gây ra thương tích cho nạn nhân thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chống người thi hành công vụ”; nếu gây thương tích cho nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chứ không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chống người thi hành công vụ”.

- Với trường hợp phạm tội vu khống đối với người đang thi hành công vụ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 156 BLHS năm 2015

Nếu có hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đang thi hành công vụ; bịa đặt người thi hành công vụ phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền thì người có hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vu khống thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, chứ không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chống người thi hành công vụ.

 

4. Hình phạt đối với người có tội danh chống đối người thi hành công vụ

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

+ Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Qua việc phân biệt tội chống thi hành công vụ với một số tội khác trong BLHS có dâu hiệu định tội hoặc dấu hiệu định khung liên quan đến dấu hiệu " chống người thi hành công vụ", có thể thấy việc định tội danh đối với hành vi chống người thi hành công vụ trong thực tế cần có sự thận trọng nhất định bởi lẽ, tùy hứng trường hợp, người có hành vi chống người thi hành công vụ có thể bị truy cứu TNHS về tội chống người thi hành công vụ nhưng cũng có thể bị truy cứu TNHS về các tội phạm khác có dấu hiệu liên quan.