1. Cấu thành tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm?

1.1 Cấu thành tội phạm là gì?

Tội phạm theo như quy định của Bộ luật hình sự hiện hành có giải thích đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và được quy định trong Bộ luật hình sự. Những hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng mức độ ảnh hưởng xã hội không đáng kể thì không được coi là tội phạm.

Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng (khách quan và chủ quan) được quy định trong Luật Hình sự thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. 

1.2 Đặc điểm cơ bản của cấu thành tội phạm 

+ Cấu thành tội phạm phải có các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc; các dấu hiệu này phải phản ánh đúng bản chất của tội phạm để có thể phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Ngoài các dấu hiêu bắt buộc thì cấu thành tội phạm còn có dấu hiệu riêng để phản ánh bản chất riêng của tội phạm cụ thể. 

+ Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. 

+ Phải tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm mới khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm.

Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm là tội danh mới được bổ sung trong BLHS. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm là hành vi vi phạm các quy định về thụ hưởng bảo hiểm, hoạt động bảo hiểm nhằm mục đích chiếm đoạt tiền bảo hiểm hoặc gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm

*Khách thể của tội phạm: Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm xâm phạm các quy định của nhà nước về quản lý thị trường bảo hiểm

*Mặt khách quan của tội phạm: Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm thực hiện bằng các hành vi sau:

- Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;

- Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;

- Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;

- Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm nếu chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

*Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm là người từ đủ 16 tuổi trở lên  và có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 75 BLHS này.

*Mặt chủ quan của tội phạm: Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm  được thực hiện với lỗi cố ý

2. Về hình phạt đối với hành vi gian lận bảo hiểm

Điều 213 quy định 4 khung hình phạt đối với hành vi gian lận bảo hiểm như sau :

-Người phạm tội theo quy định tại khoản 1 thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

-Người phạm tội theo quy định tại khoản 2 thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm đối với các trường hợp :a) Có tổ chức (xem bình luận điều 188);b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;c) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;đ) Tái phạm nguy hiểm. 

-Người phạm tội theo quy định tại khoản 3 thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với các trường hợp: a) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 500.000.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

-Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

-Hình phạt áp dung đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại khoản 5:

+ Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 400.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b và đ khoản 2 Điều này hoặc chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

+ Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 3.000.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại 5.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;

+ Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3. Một số loại gian lận bảo hiểm

Theo FBI, có ba loại lừa đảo chính của bên bán bảo hiểm. Loại thứ nhất là khi khi một doanh nghiệp hoặc cá nhân bán bảo hiểm mà không có giấy phép và sau đó không thanh toán các yêu cầu bồi thường. 

Loại thứ hai xảy ra khi có nhiều trung gian tham gia vào trong hợp đồng bảo hiểm, ví dụ như bên tái bảo hiểm; và mỗi bên đều thu phí hoa hồng, khiến phí bảo hiểm ban đầu bị pha loãng, và cuối cùng không còn tiền để trả tiền cho các yêu cầu bồi thường.

Loại thứ ba là hành vi trộm cắp tài sản của công ty bảo hiểm, ví dụ như sử dụng vốn vay để mua một công ty bảo hiểm và sau đó sử dụng tài sản của công ty bị mua lại để trả nợ.

Người mua bảo hiểm có thể nghĩ ra nhiều hình thức và phương pháp khác nhau để trục lợi từ hợp đồng bảo hiểm. 

Ví dụ, gian lận bảo hiểm xe cộ có thể bao gồm việc vứt bỏ một chiếc xe và sau đó tuyên bố rằng nó đã bị đánh cắp để nhận được một khoản thanh toán bồi thường hoặc một chiếc xe thay thế. 

Trong khi đó trên thực tế, chiếc xe có thể được bí mật bán cho bên thứ ba, bị vứt bỏ ở một địa điểm xa xôi, bị phá hủy, v.v... Ngoài ra, chủ sở hữu có thể bán chiếc xe, và sau đó tuyên bố chiếc xe đã bị đánh cắp để nhận thêm tiền bồi thường.

Chủ sở hữu một chiếc xe có thể cố gắng giảm phí bảo hiểm bằng cách sử dụng đăng kí giả mạo. Nếu anh ta sống ở khu vực có phí bảo hiểm cao vì nạn trộm xe xảy ra thường xuyên trong khu phố hoặc lí do khác, anh ta có thể cố gắng đăng kí xe ở khu vực khác để giảm phí bảo hiểm.

4. Nhờ công ty người thân đóng hộ bảo hiểm khi không đi làm có được không?

Chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ của Bảo hiểm xã hội bắt buộc, gồm các quy định do Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm thu nhập và sức khỏe cho người lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai và cho lao động nam khi có vợ sinh con.

Ý nghĩa đặc biệt của chế độ bảo hiểm thai sản:

  • Tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ và thực hiện công tác xã hội.
  • Tạo điều kiện cho lao động nam thực hiện nghĩa vụ khi có vợ sinh con.
  • Đảm bảo thu nhập cho người lao động trong thời gian hưởng thai sản.
  • Đảm bảo sức khỏe cho người lao động và quyền được chăm sóc của trẻ sơ sinh

Theo quy định tại Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì những đối tượng áp dụng chế độ thai sản bao gồm:

Theo quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc sẽ được hưởng chế độ thai sản gồm:

  • Lao động nữ mang thai;
  • Lao động nữ sinh con;
  • Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ mang thai hộ;
  • Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
  • Lao động nữ thực hiện các biện pháp tránh thai như đặt vòng tránh thai, triệt sản.

Tuy nhiên, để được hưởng thai sản, các đối tượng này cần phải đảm bảo điều kiện:

  • Lao động nữ sinh con, nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, người mẹ mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ phải có thời gian đóng BHXH tối thiểu 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
  • Lao động nữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà không đảm bảo sức khỏe, phải nghỉ việc dưỡng thai theo chỉ định của bác sĩ thì cần phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trước khi sinh.

Như vậy chỉ người đang tham gia quan hệ lao động mới thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và có thể được hưởng chế độ thai sản.

Nếu muốn đóng nhờ BHXH ở công ty người quen để có thể hưởng chế độ thai sản là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Khoản 4 Điều 17 Luật bảo hiểm xã hội 2014:"Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp" và có thể bị xử phạt theo quy định tại Khoản 20 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

...

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giả mạo.

...

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

Do đó, không thể đóng nhờ BHXH ở công ty của người quen để hưởng chế độ thai sản khi sinh. Nếu cơ quan BHXH phát hiện bản thân và công ty đóng hộ BHXH có hành vi gian lận, vi phạm pháp luật về hồ sơ để hưởng chế độ BHXH thì có thể bị xử phạt hành chính theo mức phạt nêu trên.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê