1. Tìm hiểu chung về cây đương quy
Mô tả cây đương quy
Đương quy là một cây thảo nhỏ, đa niên, cao 40 - 60cm, có thể đến 1m khi cây có hoa. Thân hình trụ, có các rãnh dọc màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần, gốc phát triển thành bẹ to, đầu nhọn, cuống lá dài 3 - 12cm, có 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét trên ngọn không có cuống; lá chét lại xẻ 1 - 2 lần nữa, mép lá chia thùy và có răng cưa không đều, phía.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép gồm 12 - 40 tán hoa, dài ngắn không đồng đều. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng hay lục nhạt.
Quả bế dẹt, có rìa màu tím nhạt, thơm.
Rễ dài 10 - 20cm, gồm nhiều nhánh, thường phân biệt thành 3 phần. Phần đầu gọi là quy đầu, phần giữa gọi là quy thân, phần dưới gọi là quy vĩ. Mặt ngoài màu nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt cắt ngang màu vàng ngà có vẫn tròn và nhiều điểm tinh dầu. Rễ có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay và hơi đắng.
Toàn thân của cây nhẵn và có mùi thơm đặc biệt.
Đặc điểm sinh thái
Các giống Đương quy có nguồn gốc ở vùng ôn đới. Cây được trồng từ lâu ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Cây ưa nơi khí hậu ẩm mát, đến mùa đông toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chịu đựng được băng tuyết và mọc lại vào mùa xuân năm sau.
Cây trồng Việt Nam ở vùng đồng bằng ra hoa quả sớm hơn ở vùng núi cao >1500m, những hạt giống này không được dùng để sản xuất dược liệu.
Mùa hoa quả rơi vào tháng 7 - 9.

Chế biến
Sau khi đào lấy rễ củ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, sau đó bó dược liệu thành bó nhỏ, xếp lên giá, đốt xông nóng (không đốt trực tiếp) cho đến khi dược liệu xuất hiện màu đỏ tươi hoặc màu vàng kim tuyến rồi sấy than.
Có thể đồ chín củ rồi cán thành phiến mỏng (Đương quy phiến).
Tửu Đương quy: Đem Đương quy đã thái lát, phun rượu đều lên khắp mặt của dược liệu, ủ qua, cho vào chảo đun nhỏ lửa, sao nhẹ đến khô, lấy ra để nguội.
Bảo quản
Để dược liệu ở nơi khô mát, tránh ẩm, tránh mốc và mọt.
Thành phần hóa học
Trong Đương quy chứa tinh dầu (0,2 - 0,4%) màu vàng sẫm trong, acid hữu cơ, acid amin, vitamin, poluacetylen, sterol, ligustilid, coumarin, polysaccharid, brefeldin.
Trong tinh dầu có chứa: Các terpen, các hợp chất phenolic, các dẫn chất phtalid và các thành phần khác như acid myristic, acid nonandioic, acid camphoric, acordinen, isoacoradinen… Tỷ lệ acid tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%.
Coumarin: umbeliferon, scopoletin, xanthotoxin, isopimpinelin, pergapten, decursin.
Acid hữu cơ: acid vanilic, acid linoleic, acid palmitic, acid nicotinic, acid sucinic.
Polysachrid khi thủy phân cho L – arabinose, D – galactose, D – glucose, L – rhamnose.
Acid amin: alanin, valin, isoleucin, serin, threonin, leucin, aspartat, glycin, acid glutamic, lysin, arginin, phenylalanin, prolin, histidin, emthionin, uracil, cholin.
Vitamin: vitamin B1, B2, E.
Polyacetylen: galcarinol, falcarindiol, falcarinolon.
Sterol: β – sitosterol, stigmasterol, β – stigmasterol – β – D – glucoside.
2. Cây đương quy có tác dụng gì đối với sức khỏe
2.1. Theo y học cổ truyền
Theo đông y, đương quy có vị ngọt, hơi đắng, hơi cay, tính ôn, mùi thơm. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, điều kinh, thống kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận tràng.
Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị các bệnh khác. Trong Y học cổ truyền, đương quy được dùng điều trị chứng huyết hư trường táo, kinh nguyệt không đều, huyết ứ trệ, đau kinh, bế kinh; các bệnh thai tiền sản hậu, đau tê chân tay, tổn thương do té ngã, tâm can huyết hư; trị nhọt lở loét hoặc khái suyễn.
2.2. Theo y học hiện đại
Tác dụng trên tử cung và cơ trơn
Trên tử cung, đương quy có 2 loại tác dụng: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.
Cụ thể là:
- Ức chế sự co cơ tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung và trực tiếp làm cho hành kinh không đau.
- Do cơ tử cung giãn nghỉ, tăng sự lưu thông huyết nên cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, giúp tử cung nhanh chóng trở lại bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (giảm đau bụng kinh).
- Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, giảm sung huyết vùng xương chậu do đó làm giảm đau trong lúc hành kinh.
Nghiên cứu được thực hiện năm 2002 cho thấy đương quy có thể sửa chữa các vấn đề về rụng trứng (đặc biệt là giai đoạn hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt) dẫn đến cải thiện khả năng sinh sản.
Bên cạnh đó, đương quy còn có tác dụng kích thích sản sinh estrogen tự nhiên, giúp cân bằng nội tiết tố, giảm tình trạng hội chứng tiền kinh nguyệt và lạc nội mạc tử cung, cải thiện triệu chứng cho phụ nữ mãn kinh và sau mãn kinh.

Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E
Theo nghiên cứu của Nghê Chương Kỳ khi cho chuột thiếu vitamin E ăn đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự.
Tác dụng trên trung khu thần kinh
Theo nghiên cứu tại Nhật Bản, tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não làm hưng phấn trung khu tủy sống, dẫn đến tê liệt, hạ huyết áp, giảm nhịp tim và nhiệt độ cơ thể, kèm co quắp cơ thể. Nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.
Tác dụng trên huyết áp và hô hấp
Theo nghiên cứu của Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi, tinh dầu của đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm tăng huyết áp.
Theo nghiên cứu của Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức cho thấy tùy theo liều lượng tinh dầu đương quy tiêm vào cơ thể mà ảnh hưởng đến hô hấp và huyết áp của cơ thể khác nhau:
- Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.
- Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn.
- Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết.
Tác dụng trên cơ tim
Trong đương quy có thành phần có tác dụng giống với quinidin, nên có tác dụng trên tim mạch
Tác dụng kháng sinh
Theo nghiên cứu, nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ, tụ cầu trùng, trực khuẩn thương hàn, liên cầu khuẩn tán huyết,.... Tinh dầu lại có tác dụng ức chế trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli, tụ cầu khuẩn vàng. Tác dụng giảm cân Nghiên cứu được công bố năm 2009 cho thấy việc protein AP0A4 trong đương quy có thể điều chỉnh apatit, dẫn đến giảm mỡ trong cơ thể.
3. Một số bài thuốc chữa bệnh từ đương quy
Tùy thuộc vào mục đích chữa bệnh khác nhau mà có những cách bào chế đương quy khác nhau. Phổ biến nhất là dạng thuốc sắc, tán bột viên thành viên uống và ngâm rượu.
- Dạng thuốc sắc: ngày uống từ 5-15g, chia 2 lần
- Dạng viên uống: uống trong 4-7 ngày
- Dạng ngâm rượu thuốc: ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml
Bài thuốc chữa viêm quanh khớp vai, đau nhức cánh tay
12g đương quy, 10g ngưu tất, 8g nghệ, sắc tất cả thuốc với 500ml nước đến khi còn một nửa lượng nước, ngày uống 2 – 3 lần. Liều lượng 1 thang/ngày. Cần kết hợp với các bài tập vận động, co duỗi cánh tay để nhanh chóng giảm đau nhức.
Bài thuốc bổ máu
8g đương quy, 6g quế chi, 6g sinh khương, 6g đại táo, 10g bạch thược, 50g đường phèn. Sắc các vị thuốc cùng 600ml nước đến khi còn 200ml, thêm đường vào, dùng uống mỗi ngày 1 thang, ngày uống 3 lần.
Phụ nữ kinh nguyệt không đều, cơ thể suy nhược
12g đương quy, 8g bạch thược, 12g thục địa, 6g xuyên khung, sắc cùng 600ml nước cho đến khi còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Phụ nữ mang thai bị đau bụng
120g đương quy, 600g thược dược, 160g phục linh, 160g bạch truật, 300g trạch tả, 120g xuyên khung, tán mịn tất cả nguyên liệu thuốc, dùng uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần một thìa cà phê với nước pha rượu.
Bài thuốc chữa mất ngủ, nhức đầu, ngủ hay mê
100g đương quy, 40g viễn chí, 40g xương bồ, 60g táo nhân, 60g ngũ vị tử, 80g khởi tử, 40g đởm tinh, 40g thiên trúc hoàng, 40g long cốt, 60g ích trí nhân, 40g chu sa, 80g hồ đào nhục, 60g bá tử nhân, tán tất cả thành bột mịn, thêm mật ong vào và làm thành viên 4g. Mỗi ngày uống 2 lần, 1 viên/lần và duy trì liên tục trong khoảng 15 ngày.
Bài thuốc chữa cao huyết áp và các triệu chứng tim mạch
31g đương quy, 31g sinh địa, 31g mạch môn, 10g tri mẫu, 31g long đởm, 15,5g lô hội, 31g chi tử, 6g vân mộc hương, 1,5g xạ hương, 31g hoàng liên, 31g hoàng cầm, 31g hoàng bồ, 15,5g đại hoàng, 15,5g hà thủ ô, 31g thạch cao. Tán các nguyên liệu này thành bột mịn, trộn cùng mật ong, viên thành viên nhỏ, uống 4 viên/ lần, 3 lần/ngày.
Bài thuốc chữa suy nhược tâm thần
6g đương quy, 6g nhân sâm, 6g bạch truật, 6g phục linh, 6g cam thảo, 6g viễn chí, 6g xà sàng, 6g phụ tử chế, 9g toan táo nhân, 9g khởi tử, 9g bạch chỉ. Sắc chung tất cả các nguyên liệu với 600ml nước, đến khi lượng nước chỉ còn 1/3. Chia làm 3 lần uống trong ngày, mỗi ngày 1 thang.