1. Có bị phạt tù khi chậm nộp lãi và gốc cho ngân hàng?

Chào luật sư, xin hỏi: Em có vay ngân hàng quân đội số tiền 500 triệu với thời hạn trong vòng 15 năm. Khoản vay đến nay là được 8 tháng, chỉ có 2 tháng đầu là em đóng gốc và lãi hàng tháng đúng hẹn còn những tháng sau em chậm đóng từ 15 đến 20 ngày/ tháng.
Vậy luật sư cho em hỏi em có thể bị phát mãi tài sản hay xử lý hình sự không ạ ?
Em cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

1. Quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

"Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn vay của ngân hàng quân đội 500 triệu đồng, với thời hạn trả nợ là 15 năm. Bạn có trả đủ trong 2 tháng đầu còn các tháng sau bạn nếu chỉ là chậm thanh toán chứ không phải là không thanh toán thì bạn sẽ khôgn bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. nếu bạn chậm thanh toán từ 15-20 ngày thì bạn sẽ phải chịu lãi suất trả chậm và phí phạt trả chậm nên khoản nợ bạn phải trả sẽ khá cao, đồng thời bạn sẽ còn bị ghi nhận nợ xấu trên trung tâm tín dụng CIC thì sau này bạn sẽ rất khó vay ở ngân hàng khác.

2. Không trả nợ ngân hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Còn trong trường hợp mà bạn chỉ trả nợ trong 2 tháng đầu và các tháng sau bạn không hề thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng mà không có lí do nào chính đáng thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015.

Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi , bổ sung 2017) quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là khi mà:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, các yếu tố cấu thành nên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gồm:

+ Vay/ mượn/ thuê tài sản/ nhận được tài sản bằng hình thức hợp đồng (có thể là bằng lời nói, văn bản, hành vi)

+ Dùng thủ đoạn gian dối/ bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản đó luôn không trả nữa/ đến thời hạn trả mặc dù có khả năng nhưng cố tình không trả/ sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại cho ngân hàng.

Từ những quy định trên thì bạn nên cố gắng đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của mình với ngân hàng, còn trong trường hợp bạn có những lí do khách quan khác dẫn đến việc chậm trả nợ hay chưa trả được nợ thì nên trao đổi rõ với ngân hàng như bị ốm phải điều trị dài ngày, kinh tế sa sút,....., tránh các trường hợp cắt đứt liên lạc với ngân hàng, bỏ trốn khỏi địa phương hay vay tiền để dùng vào các mục đích bất hợp pháp như cá độ, đánh bạc,.... Khi mà bạn đã có những lí do khách quan như vậy thì ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho bạn, và nếu có kiện thì ngân hàng cũng chỉ có thể kiện dân sự đòi nợ chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Xem thêm: Ngân hàng khởi kiện do chậm trả lãi giải quyết như thế nào?

 

2. Mức lãi vay ngoài từ 3.000 đến 5.000 đồng/1triệu/1 ngày có hợp pháp không ?

Thưa luật sư, Tôi có đứng ra vay cho 1 người bạn 20 triệu cách đây 2 năm. Người đó gửi tôi tiền lãi hàng tháng được 4 - 5 tháng rồi không trả lãi, không trả gốc. Lãi tôi vay ngoài là 3.000đ/ triệu/ ngày, giờ lãi lên 5.000đ/ triệu/ ngày. Ngày cho vay tôi không viết giấy nhưng có tin nhắn vay tiền làm bằng chứng.
Vậy xin Hỏi: Tôi có đòi được khoản tiền gốc vay hộ 20 triệu hợp pháp hay không? Tôi vay ngoài lãi cao hộ bạn, hơn 1 năm nay tôi phải trả lãi, số tiền lên đến hơn 40 triệu. Việc tôi vay hộ bạn lãi cao có vi phạm pháp luật hay không? Khoản tiền lãi này tôi có đòi được hợp pháp hay không? Bạn tôi đã bỏ về quê. Muốn kiện anh ta thì tôi viết đơn gửi cơ quan nào giải quyết và cần những giấy tờ hay bằng chứng gì?
Tôi chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

1. Về quan hệ vay tài sản:

Việc anh đứng ra vay tiền hộ bạn sẽ hình thành hai quan hệ pháp luật. Quan hệ thứ nhất là quan hệ vay tài sản giữa anh và người cho vay (tức chủ nợ), quan hệ thứ hai là quan hệ giữa bạn anh (tạm gọi là A) và anh.

Đối với quan hệ thứ nhất giữa anh và chủ nợ thì anh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, việc lãi suất, theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản bản đồng Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra và áp dụng từ ngày 01/12/2010 là 9%/năm theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010.

Trong trường hợp này, mức lãi suất tối đa được tính như sau:

+ Mức lãi suất năm: 9 x 150% = 13,5%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo ngày: 13,5 : 365 = 0,037%/ngày (làm tròn chữ số thập phân thứ 3)

Như vậy, đối với khoản vay 20 triệu của anh áp dụng mức lãi suất trên sẽ là:

20 triệu x 1.125% = 225.000 VNĐ/1 tháng

Tương ứng 7500 VND/1 ngày.

Như vậy, việc tính lãi suất là 3.000VND/1 triệu/1 ngày hoặc 5.000VND/1 triệu/1 ngày được coi là vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 476 BLDS. Trong trường hợp này anh có thể khởi kiện tranh chấp về mức lãi suất, khi mức lãi suất cao hơn mức lãi suất quy định tại Điều 476 BLDS thì Tòa án sẽ tuyên vô hiệu đối với phần lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của ngân hàng và chỉ yêu cầu anh trả nợ ở mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, nếu mức lãi suất cao gấp 10 lần mức lãi suất tối đa thì người cho vay sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 163 BLHS như sau:

Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 ( Bộ luật hình sự năm 2015 )quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Về quan hệ thứ hai, quan hệ vay tài sản giữa anh và A. Việc anh đứng ra vay hộ A 20 triệu có thể hiểu là anh cho A vay 20 triệu thông qua hợp đồng vay tài sản. Theo quy định tại Điều 471 BLDS 2015 thì việc vay tài sản được quy định như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Cùng với đó, Điều 401 BLDS cũng quy định về hình thứ của hợp đồng như sau:

“Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Theo đó, hợp đồng vay tài sản cụ thể là hợp đồng vay tiền có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể.Và hình thức của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.

Theo đó, Điều 465 BLDS 2015 cũng quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

Điều 465. Nghĩa vụ của bên cho vay

1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuận.

2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.

2. Về lãi suất anh cho A vay:

Về vấn đề này, việc anh cho A vay với lãi suất không được cao hơn mức lãi suất cao nhất (150%) quy định tại Điều 476 BLDS, nếu anh cho A vay với mức lãi suất như anh vay của chủ nợ trong quan hệ vay tài sản thứ nhất, thì mức lãi suất này sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật. (xem phêm phần 1 – Về quan hệ vay tài sản).

3. Về giải quyết quan hệ vay tài sản:

Theo quy định tại Điều 474 BLDS và Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong “Phần thứ nhất” của bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc trả nợ được thực hiện như sau:

“Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Do anh không cung cấp thời hạn nên được tư vấn cho anh trong hai trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Hợp đồng vay giữa anh và A là hợp đồng vay không kỳ hạn.

“Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.”

Trong trường hợp này, anh có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo trước cho A. Quá thời hạn thông báo mà A vẫn không trả nợ thì anh có thể khởi kiện đòi tài sản.

- Trường hợp 2: Hợp đồng vay giữa anh và A là hợp đồng vay có kỳ hạn

“Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác.”

Trường hợp này, nếu chưa hết hạn thì anh không thể đòi tiền A được. Nếu sau khi hết thời hạn mà A vẫn không trả tiền thì anh có thể giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để Tòa án giải quyết quyền lợi của anh.

Về hồ sơ khởi kiện anh cần chuẩn bị:

- Đơn khởi kiện

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân của anh và A

- Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu của anh và A

- Các giấy tờ chứng minh việc vay tài sản giữa anh và A: tin nhắn vay tiền của A gửi cho anh (in thành văn bản có xác nhận của công ty cung cấp dịch vụ), giấy nhận tiền, giấy trả lãi;….

Thời hiệu khởi kiện là 02 (hai) năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của anh bị xâm phạm (Kể từ ngày quá hạn trả nợ).

>> Tham khảo: Mức lãi suất cho vay tín chấp của các công ty tài chính ? Quy định về chậm trả lãi suất tiền vay ?

 

3. Chồng chậm cấp dưỡng hàng tháng có được tính tiền lãi không ?

Kính chào luật sư Luật Minh Khuê, tôi là phụ nữ đơn thân nuôi con rất vất vả. Chồng tôi là người có điều kiện kinh tế và sau khi chúng tôi ly hôn theo bản án của tòa là anh ấy hàng tháng phải cấp dưỡng.
Hàng tháng anh ấy phải cấp dưỡng cho con tôi số tiền 10 triệu đồng. Nhưng đã 04 tháng nay anh ấy không cấp dưỡng, tôi hỏi anh ấy không trả lời. Tôi thiết nghĩ nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện bằng tiền nên chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng có tính chất như chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên người chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Do đó, người có nghĩa vụ phải chịu tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng với mức lãi suất theo quy định pháp luật dân sự ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Vậy nên việc chồng chị cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn chỉ là một nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản để cùng chị nuôi dạy con chứ đó không thể coi như một nghĩa vụ nợ trong giao dịch dân sự. Hơn nữa cần căn cứ vào tình hình thực tế của chồng chị, không thể bắt buộc anh ấy phải đóng đủ số tiền 10 triệu một tháng mà không xem xét công việc, cuộc sống hiện tại của anh ấy như thế nào. Vì thời điểm Tòa án tuyên án với mức cấp dưỡng 10 triệu anh ấy hoàn toàn có khả năng thực hiện nhưng biết đâu tại thời điểm này công việc của anh ấy không có thu nhập, thập chí là ốm đau, bệnh tật mà chị yêu cầu anh cấp dưỡng như đòi nợ là không phù hợp với tinh thần mà Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định.

Thứ nhất: Tại khoản 1, Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Như vậy, Điều 357 không có quy định phải trả lãi đối với những nghĩa vụ khác được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

"Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này."

Thứ hai: Việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không thể xem giống như nghĩa vụ trả tiền, bởi lẽ nếu tương đồng thì nhà làm luật đã không phải phân biệt “nghĩa vụ cấp dưỡng” với “nghĩa vụ trả tiền”. Do đó, chúng ta cũng không thể xem việc chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng có tính chất như chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nên người chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không phải chịu tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ ba: Theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, việc cấp dưỡng có thể được thực hiện theo thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng được Tòa án giải quyết và có bản án bắt buộc thi hành. Nếu có căn cứ khẳng định người có khả năng cấp dưỡng (có sức khỏe và có tài sản) nhưng chậm (cố tình kéo dài) hoặc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (trốn tránh) thì có thể bị xử lý hành chính, theo mức độ nghiêm trọng mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.

"Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm."

Vậy nên bạn cần xem xét lại về vấn đề cấp dưỡng, liệu việc anh ấy không cấp dưỡng trong 04 tháng có làm bạn và con lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hay không.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

 

4. Quy định về lãi suất cho vay hiện nay ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Năm 2014 lãi suất NH là 9%/năm , tôi cho vay với lãi suất 3%x12= 36%/năm thì theo các quy định về luật có bị coi là cho vay nặng lãi không?. Trường hợp khác mà người vay đã làm giấy vay tiền theo mức lãi xuất trên mà không có khả năng trả tiền gốc và lãi cho mình, cứ khất lần này đến lần khác, thì nên làm gì?
Đưa ra truy tố Cơ quan công an kinh tế tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"? được không Và có chắc được nhận lại số tiền gốc không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>>  Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Về thắc mắc đầu tiên của bạn cho vay với lãi suất 36%/năm có phải cho vay nặng lãi hay không? tôi xin được giải đáp như sau:

Tại Điều 163 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội cho vay nặng lãi như sau:

"1.Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Và tại thời điểm năm 2014 lãi suất ngân hàng nhà nước là 9%/ năm

--> Căn cứ vào quy định nêu trên bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi nếu như bạn cho vay với lãi suất cao hơn mức lãi suất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên, cụ thể nếu bạn cho vay với mức lãi suất từ 90%/ năm trở lên thì sẽ là cho vay nặng lãi. Trong trường hợp này bạn cho vay với mức lãi suất là 36%/ năm, do vậy bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lại.

Tuy nhiên, tại Điều 476 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Tại thời điểm bạn cho vay, mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước ban hành tại thời điểm đó là 9%/năm. Căn cứ theo quy định trên thì lãi suất cho vay của bạn không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, tức là bạn chỉ được cho vay với mức lãi suất tối đa là 9x150%= 13.5%. Trong trường hợp này khi bạn cho vay với mức lãi suất là 36%/ năm ,tuy sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vể tội cho vay nặng lãi nhưng bạn có thể sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi cho vay với mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật như vậy.

Về thắc mắc thứ hai, khi người vay đã làm giấy vay tiền theo mức lãi xuất trên mà không có khả năng trả tiền gốc và lãi cho mình, cứ khất lần này đến lần khác, thì nên làm gì? Đưa ra truy tố Cơ quan công an kinh tế tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"? được không Và có chắc được nhận lại số tiền gốc không? tôi xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, tại Khoản 1 Điều 139 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ban năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

Căn cứ vào quy định nêu trên thì hành vi không trả được nợ của người vay tiền không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì hai bạn đã kí kết hợp đồng cho vay một cách hợp pháp, khi kí kết hợp đồng người vay không sử dụng thủ đoạn gian dối để kí hợp đồng vay nhằm chiếm đoạt số tiền vay của bạn, tức là người vay không lừa bạn để ký hợp đồng nhằm chiếm đoạt số tiền đó mà người đó chỉ không có khả năng trả nợ sau khi kí kết hợp đồng vay, do đó hành vi này không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Do đó người vay không thể bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, nếu như bạn và người vay không thỏa thuận được về việc trả tiền gốc và lãi, và bạn muốn khởi kiện để đòi lại số tiền vay đó thì bạn nên khởi kiện ra tòa theo thủ tục tố tụng dân sự để kiện đòi tài sản. Và khi bạn khởi kiện ra tòa như vậy thì căn cứ theo Điều 467 Bộ luật dân sự quy định về Lãi suất như đã phân tích ở trên thì bạn chỉ được pháp luật đảm bảo lợi ích trong phạm vi mức lãi suất cao nhất là 13,5%/năm ( không vượt quá 150% của mức lãi suất mà Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm đó là 9%/năm). Như vậy khi khởi kiện ra tòa thì người vay chỉ có nghĩa vụ trả cho bạn số nợ gốc và tiền lãi trên số nợ gốc đó với lãi suất là 13,5%/năm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.