Ngày 17/3/2014 chồng tôi làm ăn với một người, hiện nay đã 63 tuổi, hộ khẩu thường trú tại thành phố Vinh- Nghệ An. Giữa chồng tôi và ông âý có ký một hợp đồngkinh tế (vv tận thu vàng sa khoáng tại huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Trong nội dung hợp đồng có ký kết thời hạn kể từ ngày công ty chồng tôi uỷ nhiệm chi vào tài khoản ông âý vào ngày 17/3/2014 đến ngày 17/9/2014 ( hợp đồng chỉ trong 6 tháng). Điều kiện hợp đồng khi ông âý có giấy phép khai thác cho cty chồng tôi sẽ phải thanh toán cho ông âý với số tiền là 7 tỷ. Công ty chồng tôi đã chuyển cho ông âý làm 2 đợt với số tiền là 3,6tỷ rồi. Cho đến thời điểm này ông ta vẫn ko có giấy phép cho công ty chồng tôi, ông âý đã trả được cho nhà tôi mấy lần mới được 800 triệu. Số tiền còn lại ông âý phải trả nhà tôi bây giờ là 2,8 tỷ. Tôi nhận thấy rằng ông âý có thủ đoạn lừa đảo vợ chồng tôi, đã bao nhiêu tháng nay ko làm được rồi và hẹn trả tiền thì ko trả. Chúng tôi ko thể chờ đợi được nữa vì ông ta qúa nhiều lần sai hẹn trong khi nhà ông âý giàu có, nhiều mảnh đất... Tôi có đầy đủ giấy tờ pháp lý với ông âý nhưng tôi ko biết phải bắt đầu thế nào để làm việc được cho ông âý ra pháp luật.

Tôi gửi mail này mong cty Minh Khuê reply tư vấn giúp tôi và có thể hợp tác với vợ chồng tôi thu lại được số tiền đó. Tôi xin chân thành cảm ơn! Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Chậm trả tiền khi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2005 

- Bộ luật Hình sự 1999 

- Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 

Nội dung trả lời:

Điều 425 BLDS 2005 quy định về huỷ bỏ hợp đồng dân sự như sau:

"1. Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.

4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này vì người mà chồng bạn hợp tác cùng làm ăn (A) vi phạm hợp đồng nên chồng bạn có quyền hủy bỏ hợp đồng, đồng thời các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Vì A đã được công ty chồng bạn thanh toán một khoản tiền để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng A đã không thực hiện được nghĩa vụ của hợp đồng nên về nguyên tắc A phải trả lại khoản tiền này cho công ty cùng với một khoản bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Nếu A không chịu trả lại cho công ty chồng bạn khoản tiền này thì công ty chồng bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc này theo thủ tục Tố tụng dân sự.

Mặt khác, Khoản 1 Điều 139 BLHS có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Đối với tội này người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên nếu xét thấy A có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chồng bạn có thể gửi đơn tố giác tội phạm đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án để các cơ quan này kịp thời điều tra và giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật dân sự.