- 1. Quy định chung về hoãn thực hiện nghĩa vụ
- 2. Quy định về chấm dứt nghĩa vụ
- 2.1 Nghĩa vụ được hoàn thành
- 2.2 Theo thoả thuận của các bên
- 2.3 Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ
- 2.4 Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác
- 2.5 Nghĩa vụ được bù trừ
- 2.6 Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một
- 2.7 Nghĩa vụ chấm dứt khi thời hạn khởi kiện đã hết
- 2.8 Nghĩa vụ chấm dứt khi một bên trong quan hệ nghĩa vụ chết
- 2.9 Nghĩa vụ chấm dứt khi đối tượng là vật đặc định không còn
- 2.10 Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản
1. Quy định chung về hoãn thực hiện nghĩa vụ
Người có nghĩa vụ khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì phải thông báo ngay cho người có quyền biết và để nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp không thông báo cho bên có quyển, thì bên có nghĩa vụ phải bổi thường thiệt hại xảy ra, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo. Người có nghĩa vụ chỉ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ nếu được người có quyền đồng ý và việc thực hiện nghĩa vụ dân sự khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.
Trong hợp đồng song vụ, bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh.
2. Quy định về chấm dứt nghĩa vụ
2.1 Nghĩa vụ được hoàn thành
Nghĩa vụ được coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo sự xác định của pháp luật. Tại thời điểm nghĩa vụ được coi là hoàn thành sẽ chấm dứt quan hệ nghĩa vụ giữa các bên.
Trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ là một vật mà người có quyền chậm tiếp nhận vật thì người có nghĩa vụ phải bảo quản, giữ gìn vật hoặc gửi vật vào nơi nhận gửi giữ. Nghĩa vụ giao vật được coi là hoàn thành tại thời điểm vật đã được gửi giữ an toàn và bảo đảm về chất lượng, số lượng cũng như các điều kiện khác mà các bên đã thoả thuận.
Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một khoản tiền hoặc giấy tờ trị giá được bằng tiền mà người có quyền chậm tiếp nhận đối tượng thì người có nghĩa vụ có thể gửi vào nơi nhận gửi giữ nhưng phải thông báo ngay cho bên có quyền. Từ thời điểm gửi giữ, nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành.
2.2 Theo thoả thuận của các bên
Xuất phát từ nguyên tắc: "Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận" trong việc thiết lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể, pháp luật cho phép các bên có thể thoả thuận để chấm dứt nghĩa vụ. Tuy nhiên, việc thoả thuận đó không được gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Căn cứ này thường được áp dụng trong những quan hệ nghĩa vụ mà trong đó, các bên chủ thể đều có nghĩa vụ đối với nhau. Toàn bộ mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được coi là chấm dứt tại thời điểm mà các bên đã thoả thuận xong việc không thực hiện nghĩa vụ.
2.3 Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ này thường được áp dụng trong những quan hệ nghĩa vụ mà một bên chủ thể chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ. Do đó, việc miễn hay không, trước tiên là do ý chí của người có quyền. Tuy nhiên, ý chí đó phải được sự tiếp nhận của phía bên kia. Quan hệ nghĩa vụ sẽ chấm dứt tại thời điểm người có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ.
Những biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cũng được chấm dứt khi người có quyền đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ đó.
Nếu việc miễn thực hiện nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác thì không được coi là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ.
Ví dụ: Người bị thiệt hại về sức khoẻ không còn khả năng lao động có thể miễn việc bồi thường cho người gây thiệt hại nhưng phần bồi thường để nuôi dưỡng con chưa thành niên của người bị thiệt hại không được miễn.
2.4 Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác
Các bên có thể thoả thuận để chấm dứt nghĩa vụ ban đầu và thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận mới. Căn cứ này còn được gọi là sự đổi mới nghĩa vụ.
Thông qua sự thoả thuận các bên có thể làm hình thành một nghĩa vụ hoàn toàn mới so với nghĩa vụ trước đó (ví dụ: Các bên thoả thuận chấm dứt nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán và nghĩa vụ đó được thay thế bằng nghĩa vụ của người vay trong hợp đồng cho vay). Mặt khác, có thể các bên chỉ thoả thuận về việc thay thế đối tượng của nghĩa vụ đã được xác định trước bằng một đối tượng khác. Vì vậy, nếu người có quyền đã đồng ý và tiếp nhận một tài sản hoặc một công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thoả thuận trước thì tại thời điểm tiếp nhận, nghĩa vụ được coi là chấm dứt.
2.5 Nghĩa vụ được bù trừ
Bù trừ nghĩa vụ là căn cứ để chấm dứt nghĩa vụ trong những trường hợp cả hai bên cùng có nghĩa vụ đối với nhau về một đối tượng cùng loại và đều đã đến thời hạn thực hiện.
Như vậy, việc bù trừ nghĩa vụ chỉ được thực hiện khi có đủ yếu tố:
- Các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ đều có yêu cầu đối nhau:
Bù trừ nghĩa vụ chỉ được thực hiện trong những trường hợp các bên trong một quan hệ nghĩa vụ đều có yêu cầu đối với nhau. Bên này là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hiện tại nhưng lại là bên có nghĩa vụ trong một quan hệ khác. Chẳng hạn, bên được bồi thường trong quan hệ về bồi thường thiệt hại vốn là bên phải trả nợ vay trước đó mà bên cho vay là bên phải bồi thường thiệt hại trong quan hệ bồi thường này.
- Nghĩa vụ của hai bên phải cùng loại:
Việc bù trừ chỉ được thực hiện trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ là tài sản cùng loại. Tuy nhiên các bên có thể thoả thuận để định giá một vật thành tiền để bù trừ với nghĩa vụ trả tiền. Trong trường hợp giá trị của đối tượng không tương đương với nhau thì sau khi bù trừ các bên phải thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch. Tại thời điểm thanh toán xong khoản chênh lệch, nghĩa vụ mới được coi là chấm dứt.
- Khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đều đã đến:
Có thể các bên đều có nghĩa vụ đối với nhau nhưng nếu chỉ một nghĩa vụ đến thời hạn phải thực hiện còn nghĩa vụ kia chưa đến thì các bên cũng không được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Ngoài việc phải có đủ các điệu kiện trên việc bù trừ nghĩa vụ mới được thực hiện, pháp luật hiện hành còn quy đinh không được bù trừ nghĩa vụ dân sự trong những trường hợp sau đây:
- Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
- Nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Trong những trường hợp khác mà pháp luật đã quy định là không được bù trừ.
2.6 Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một
Trong thực tế, có những trường hợp khi xuất hiện một sự kiện sẽ làm cho một người đang có nghĩa vụ trở thành người có quyền đối với chính nghĩa vụ đó. Chẳng hạn, một người đang có nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền nhưng họ lại trở thành người được đòi nợ khoản tiền đó do người chủ nợ chết mà người có nợ lại là người thừa kế duy nhất của người chết.
Trong quan hệ nghĩa vụ giữa pháp nhân với nhau, trường hợp trên xảy ra khi có sự hợp nhất hay sáp nhập giữa pháp nhân có nghĩa vụ với pháp nhân có quyền.
2.7 Nghĩa vụ chấm dứt khi thời hạn khởi kiện đã hết
Trong thời hạn do pháp luật quy định, người có quyền không khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, khi hết thời hạn đó, nghĩa vụ dân sự đương nhiên chấm dứt dù người có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ đó.
2.8 Nghĩa vụ chấm dứt khi một bên trong quan hệ nghĩa vụ chết
Thông thường, một bên trong quan hệ nghĩa vụ là cá nhân chết thì những quyền và nghĩa vụ của họ được chuyển giao cho người thừa kế. Người thừa kể được hưởng các quyền dân sự mà người này để lại đồng thời phải thay họ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đối với những người khác. Tương tự như vậy, nếu một bên trong quan hệ nghĩa vụ là pháp nhân chấm dứt sự tồn tại thì quyền và nghĩa vụ dân sự của nó được chuyển giao cho pháp nhân mới hợp nhất hoặc mới sáp nhập.
Tuy nhiên, khi cá nhân trong một quan hệ nghĩa vụ chết hoặc pháp nhân chấm dứt thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Nếu các bên có thoả thuận nghĩa ,vụ phải do chính bên có nghĩa vụ thực hiện thì khi cá nhân đó chết hoặc pháp nhân đó chấm dứt sự tồn tại, nghĩa vụ dân sự sẽ chấm dứt.
- Khi pháp luật quy định về việc nghĩa vụ phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện. Ví dụ: Nghĩa vụ cấp dưỡng chẩm dứt khi người phải cấp dưỡng chết.
- Khi các bên thoả thuận về việc thực hiện nghĩa vụ chỉ dành cho chính người có quyền mà người có quyền đã chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại.
2.9 Nghĩa vụ chấm dứt khi đối tượng là vật đặc định không còn
Trong thực tế, khi đối tượng được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ là một vật đặc định thì người có nghĩa vụ giao vật phải giao đúng vật đó. Vì vậy, khi vật đó không còn thì nghĩa vụ phải giao vật đặc định chấm dứt. Tuy nhiên, các bên có thể thoả thuận để thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.
Như vậy, thực chất khi vật đặc định không còn chỉ là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ giao đúng vật. Nó không phải là căn cứ làm chấm dứt hoàn toàn nội dung của nghĩa vụ dân sự.
Ví dụ: A mượn B chiếc xe máy biển kiểm sát 29E2 - 42***, sau đó A là cháy hoàn toàn chiếc xe nên không thể trả lại cho B được nữa. Từ thời điểm chiếc xe không còn tồn tại, A không còn nghĩa vụ phải giao chiếc xe cho B, nhưng phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho B.
2.10 Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản
Pháp nhân chấm dứt do bị tuyên bố phá sản. Đây là một căn cứ mà theo đó pháp nhân hoàn toàn chấm dứt sự tồn tại của mình (chấm dứt tuyệt đối). Do vậy, nó cũng là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự trong những trường hợp mà pháp luật về phá sản quy định.
Ví dụ: Công ty TNHH D có khoản nợ 10 tỷ đồng với ông A, nhưng sau khi công ty D phá sản, mặc dù khoản nợ 10 tỷ này chưa trả hết nhưng do công ty không còn tồn tại nữa nên ông A không thể đòi lại được toàn bộ số tiền, nghĩa vụ trả nợ của công ty D đã chấm dứt.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)