1. Thế nào là thực hiện nghĩa vụ có điều kiện?
Điều kiện được hiểu là điều phụ thuộc bắt buộc phải có trong một sự cam kết để định đoạt. Hay có thể hiểu điều kiện là những giả thiết phải có trong tương lai thì thỏa thuận của các bên mới có hiệu lực.
Theo Điều 284 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 284. Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện
1. Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
2. Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật này.
Đối với nội dung của Điều luật trên thì bên có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi điều kiện xuất hiện. Ngược lại nếu điều kiện không xuất hiện thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ. Điều kiện có thể được dự liệu bởi các trường hợp sau:
- Do các bên trong quan hệ nghĩa vụ thỏa thuận: Điều kiện được các bên thể thỏa thuận có thể mang tính khách quan. Ví dụ như các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đây là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm mà theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Do pháp luật quy định: Trong một số trường hợp pháp luật dự liệu các điều kiện để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện, chẳng hạn Khoản 3 Điều 30 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử quy định.. ”. Như vậy, nghĩa vụ khai sinh và khai tử của bố, mẹ đứa trẻ chỉ phải thực hiện khi gắn với điều kiện đứa trẻ sống được từ trên 24 giờ đồng hồ. Nếu như đứa trẻ sổng dưới 24 tiếng đồng hồ thì cha, mẹ đứa trẻ không phải đăng ký khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Nếu điều kiện thực hiện nghĩa vụ không xảy ra thì giải quyết như thế nào?
Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật này.
Như vậy, tại khoản 2 của Điều 284 Bộ luật dân sự 2015 cũng đưa ra dự liệu trường hợp điều kiện thực hiện nghĩa vụ không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên (dẫn đến gây bất lợi cho bên còn lại) thì xem xét áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể:
“Trường hợp điểu kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra ”.
3. Nghĩa vụ có đối tượng tùy chọn là gì?
Trong quan hệ nghĩa vụ, có loại nghĩa vụ mà bên mang nghĩa vụ phải bắt buộc phải thực hiện đúng đối tượng, nhưng cũng có loại nghĩa vụ cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn đối tượng để thực hiện. Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho bên có nghĩa vụ hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình.
Theo khoản 1 Điều 285 Bộ luật dân sự 2015:
Nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn là nghĩa vụ mà đối tượng là một trong nhiều tài sản hoặc công việc khác nhau và bên có nghĩa vụ có thể tùy ý lựa chọn, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định dành quyền lựa chọn cho bên có quyền.
Các đối tượng được tùy ý lựa chọn gồm:
- Tài sản: bên có nghĩa vụ có thể lựa chọn một trong nhiều loại tài sản tương đương để thực hiện nghĩa vụ: Bên có nghĩa vụ nợ tiền có thể thực hiện nghĩa vụ bằng việc trả bằng vật có giá trị tương đương hoặc giấy tờ có giá...
- Công việc: Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện một công việc với công bỏ ra có giá trị tương đương với giá trị tài sản phải thực hiện. Trường hợp nghĩa vụ phải thực hiện là một công việc thì bên có nghĩa vụ sẽ khó có thể dùng công việc khác để thay thể bởi vì khoản 1 Điều 281 của Bộ luật dân sự quy định:
“Nghĩa vụ phải thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó".
Tuy nhiên, khi các bên thỏa thuận phát sinh loại nghĩa vụ mà trong đó vừa có đối tượng là công việc, vừa có đối tượng là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể tùy ý lựa chọn để thực hiện công việc hoặc tài sản. Ví dụ: A nợ B một khoản tiền, trước khi cho vay, A và B có thỏa thuận A có thể trả nợ hoặc thực hiện một công việc nào đó do B yêu cầu tương xứng với giá trị tài sản vay. Như vậy, nghĩa vụ A phải trả là khoản tiền đó hoặc phải hoàn thành cho B một công việc nào đó. Lúc này, A có thể lựa chọn một trong hai loại nghĩa vụ.
Việc thực hiện loại nghĩa vụ nào thuộc về quyền lựa chọn của bên có nghĩa vụ nhưng bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết về việc tài sản hoặc công việc được lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền đã xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ được lựa chọn thì bên có nghĩa vụ phải hoàn thành đúng thời hạn.
4. Thực hiện nghĩa vụ thay thế được
Theo Điều 286 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 286. Thực hiện nghĩa vụ thay thế được
Nghĩa vụ thay thế được là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ ban đầu thì có thể thực hiện một nghĩa vụ khác đã được bên có quyền chấp nhận để thay thế nghĩa vụ đó
Thay thế nghĩa vụ xuất hiện khi các bên có thỏa thuận, theo đó, bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ ban đầu thì có thể thực hiện một nghĩa vụ khác. Loại nghĩa vụ này được pháp luật ghi nhận trước hết thể hiện được sự tôn trọng ý chí thỏa thuận của các bên. Bên cạnh đó còn thể hiện được tính chất linh hoạt phù hợp với các loại quan hệ dân sự. Qua đó, tạo điều kiện để các bên chủ thể thực hiện được cách tốt nhất các quyền và nghĩa vụ của mình.
Ví dụ: A thỏa thuận bán cho B một chiếc xe máy. Theo đó, A có nghĩa vụ chuyển giao tài sản là chiếc xe máy cho B và nhận tiền còn B có nghĩa vụ trả tiền và nhận chiếc xe máy. Tuy nhiên, A đã chuyển giao chiếc xe máy cho B nhưng B chưa có tiền trả cho A nên đã thỏa thuận với A sẽ thực hiện thiết kế một căn nhà theo đúng mong muốn của A. Vì B là một kiến trúc sư giỏi nên A đã đồng ý để B thiết kế bản vẽ căn nhà cho mình.
5. Thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần
Pháp luật dân sự ghi nhận cho các bên nguyên tắc thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ theo phương thức một lần hay nhiều lần. Theo quy định tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần
1. Nghĩa vụ phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ có thể chia thành nhiều phần để thực hiện.
2. Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ nghĩa vụ đều có thể phân chia thành nhiều giai đoạn để thực hiện mà muốn thực hiện nghĩa vụ dân sự theo phương thức chia nhỏ thành nhiều giai đoạn thì pháp luật quy định, đối tượng của quan hệ nghĩa vụ đó phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Đối tượng của nghĩa vụ có thể chia thành nhiều phần để thực hiện:
+ Nếu là vật, vật đó phải tồn tại dưới dạng chia được tức là sau khi chia nhỏ vật đó thành nhiều phần, tính năng, công dụng của nó vẫn được đảm bảo tương ứng với giá trị sử dụng vốn có.
+ Nếu là công việc, công việc này cũng phải tồn tại ở tình trạng có thể thực hiện thành nhiều công đoạn khác nhau.
- Khi các bên không có thỏa thuận khác, bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ. Đây là nguyên tắc của pháp luật giúp xác định cách thức thực hiện nghĩa vụ của bên mang nghĩa vụ trước bên có quyền. Việc chia nhỏ từng phần của đối tượng nghĩa vụ (tài sản hoặc công việc) có thể là quyền của bên mang nghĩa vụ. Miễn rằng, tất cả đối tượng (tài sản hoặc công việc) của quan hệ nghĩa vụ vẫn được bên mang nghĩa vụ đảm bảo mang lại quyền, lợi ích cho bên có quyền.
6. Thế nào là nghĩa vụ không phân chia được theo phần?
Theo Điều 291 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 291. Thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần
1. Nghĩa vụ không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc.
2. Trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện một nghĩa vụ không phân chia được theo phần thì họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc.
Đối ngược lại với thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần, pháp luật ghi nhận tiếp quy định thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần, theo đó khi xem xét đen đối tượng của quan hệ nghĩa vụ mà pháp luật quy định, nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc.
+ Nếu đối tượng là vật, phải tồn tại dưới dạng không chia được. Xuất phát từ nguyên lý vật chia được là vật khi bị phân chia thành nhiều phần vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Do đó, cả quá trình thực hiện nghĩa vụ có đối tượng là vật chia được khi thực hiện từng phần nhỏ không làm ảnh hưởng đến toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền và lợi ích của bên có quyền. Như vậy, nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật không chia được, nghĩa vụ phát sinh liên quan đến đối tượng này phải được thực hiện cùng một lúc.
+ Nếu đối tựợng là công việc, không chia được thành nhiều phần để thực hiện. Công việc được coi là đối tượng của nghĩa vụ nếu từ đó nhiều chủ thể xác lập với nhau quan hệ nghĩa vụ theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã xác định. Công việc là đối tượng do các chủ thể thỏa thuận rất đa dạng nên phương thức thực hiện cũng rất phong phú phù hợp với sự thỏa thuận của các bên. Nếu việc thực hiện công việc không phân thành giai đoạn thì người có nghĩa vụ phải hoàn thành công việc đó liền mạch.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.