đều được theo kèm bởi ít nhất là Chánh Tư Duy (chi phần thứ 2), Chánh Tinh Tấn (chi phần thứ 6), và Chánh Niệm (chi phần thứ 7). Còn "Tà Định" thì hiện diện ở các trạng thái ý thức bất thiện, và bởi vậy mà chỉ có ở tầng Dục Giới mà không có ở các tầng ý thức cao hơn. "Định" hay "Định Tĩnh", ở trong kinh điển luôn luôn là chỉ về Chánh Định.
1. Đối tượng của Định
Bốn "Nền tảng của Chánh Niệm" (chi phần thứ 7): đây gọi là đối tượng của định.
2. Điều kiện của Định
Bốn "Nỗ lực của Chánh Tinh Tấn" (chi phần thứ 6): đây gọi là điều kiện của định.
3. Sự tu tập và phát triển của Định
Sự tu tập, phát triển, và trau dồi của Chánh Niệm và Chánh Tinh Tấn: đây gọi là sự tu tập và phát triển của định.
Chánh Định có hai mức độ tu tập: 1. Cận Định (cận hành định), là mức định tiệm cận đến sơ thiền, tuy nhiên chưa thể an trú được vào đó. 2. An Trú Định (an chỉ định) là mức định hiện diện ở bốn tầng thiền (jhana). Các tầng thiền là những trạng thái tinh thần vượt ra khỏi sự hoạt động của năm giác quan, chỉ có thể chứng đạt trong sự độc cư và bởi một nỗ lực không ngừng của việc tu tập thiền định. Ở tất cả các trạng thái này, mọi hoạt động ở năm giác quan được ngưng lại. Không một tiếp xúc âm thanh hay hình ảnh nào khởi lên trong khoảng thời gian đó, không cảm giác cơ thể nào được cảm nhận. Nhưng mặc dù các tiếp xúc giác quan bên ngoài đã dừng lại, tâm của thiền giả vẫn hoạt động, đầy đủ sự tỉnh táo và hoàn toàn tỉnh giác.
Sự chứng đạt của các tầng thiền này, tuy nhiên, lại không phải là điều kiện thiết yếu cho sự chứng ngộ bốn Thánh Đạo Xuất Thế, và kể cả cận định hay an trú định cũng không sở hữu quyền năng trao đến sự thể nhập vào bốn Thánh Đạo. Vậy nên chúng thực sự không có khả năng giải thoát vĩnh viễn một người khỏi ác đạo. Sự chứng ngộ của bốn Thánh Quả chỉ có thể đạt được ở thời điểm của việc tuệ quán (minh sát) sâu sắc vào bản chất vô thường, khổ, và vô ngã của toàn bộ quá trình tồn tại. Sự sáng tó này lại chỉ có thể đạt được ở cận định, chứ không phải ở an trú định.
Người chứng đạt được một trong bốn con đường Thánh mà không qua các tầng thiền, thì được gọi là Thuần Tịnh Tuệ Quán Thừa, nghĩa là "người đạt đến thanh tịnh chỉ với tuệ quán làm phương tiện cho mình". Còn người mà, tuy nhiên, sau khi thành tựu các tầng thiền, lại tiếp tục đạt tới các Thánh Quả, thì được gọi là An Tịnh Thừa hay "Người lấy An Tịnh (Định) làm phương tiện cho mình".
4. Bốn tầng thiền
Ở đây vị đệ tử xa rời dục lạc, xa rời các ác bất thiện pháp, chứng và an trú Sơ Thiền, một trạng thái tràn đầy bởi niềm vui và hạnh phúc sinh ra do ly dục, đi kèm bởi Tạo tác ý nghĩ (tầm) và Tư duy suy nghĩ (tứ).
Đây là bậc đầu tiên của những tầng thiền mà thuộc về cõi Sắc Giới. Nhờ sức mạnh của Định, nó được chứng đạt khi năm hoạt động giác quan được tạm thời đình chỉ, và với năm chướng ngại cũng thế, tạm thời chúng bị loại bỏ. Và này, tầng thiền thứ nhất (Sơ Thiền) từ bỏ năm yếu tố và sở hữu năm yếu tố. Ở đây, vị đệ tử nhập định Sơ Thiền, vị ấy từ bỏ năm chướng ngại là: Tham dục, Sân hận, Hôn trầm thuỵ miên, Trạo cử hối quá, và Nghi ngờ. Và thay vào đó là: Tạo tác ý nghĩ (tầm), Tư duy suy nghĩ (tứ), Niềm vui (hỷ), Hạnh phúc (lạc), và Định tĩnh (định).
Năm yếu tố tâm lý có mặt ở Sơ Thiền này được gọi là các "Thiền Chi". Tầm (sự hình thành, tạo tác ban đầu của một ý niệm) và Tứ (sự tư duy, sự suy nghĩ) được gọi là những "tạo tác ngôn ngữ" của tâm; do vậy chúng chỉ là thứ yếu khi đem so sánh với ý thức.
Trong Thanh Tịnh Đạo Luận, “Tầm” được ví như là việc dùng một tay cầm lấy cái nồi, còn “Tứ” thì như là việc dùng tay còn lại để lau chùi nó. Ở tầng thiền thứ nhất, cả hai đều có mặt, nhưng chúng chỉ có mục đích duy nhất là tập trung vào đề mục thiền định, "Tứ" ở đây không phải là sự suy nghĩ lan man, mà nó mang bản chất của sự “tìm tòi”, “dò xét”. Tuy nhiên cả hai đều vắng mặt ở những tầng thiền tiếp theo.
Lại nữa, ở đây, với sự lắng xuống của Tạo tác ý nghĩ và Tư duy suy nghĩ, vị đệ tử chứng và an trú Nhị Thiền, một trạng thái tràn đầy bởi niềm vui và hạnh phúc sinh ra do định tĩnh, với sự an bình thuần nhất không còn Tạo tác ý nghĩ và Tư duy suy nghĩ.
Ở Nhị Thiền chỉ còn lại ba yếu tố: Niềm vui, Hạnh phúc, và Định tĩnh.
Lại nữa, với sự lặng tắt của niềm vui, vị đệ tử an trú với niềm quân bình, với chánh niệm và tỉnh giác, và vị ấy tự mình cảm nhận sự an lạc mà các bậc Thánh gọi là: "Nơi an trú hạnh phúc của chánh niệm và quân bình" - như vậy vị đệ tử chứng và an trú Tam Thiền.
Trong tầng thiền thứ ba, chỉ còn lại hai thiền chi: Hạnh phúc, và Định tĩnh.
Lại nữa, từ bỏ an lạc và khổ đau, cùng sự chấm dứt của những vui buồn trước kia, vị đệ tử chứng và an trú Tứ Thiền, một trạng thái thuần khiết của niềm quân bình và chánh niệm, vượt lên trên khổ đau và an lạc.
Ở Tứ Thiền chỉ còn hiện diện hai yếu tố đó là: Định tĩnh (định) và Quân bình (xả).
Trong Thanh Tịnh Đạo Luận, có tất cả 40 đề mục thiền định (nghiệp xứ) được liệt kê và bàn đến chi tiết. Bởi sự thành tựu trong thực hành mà những tầng thiền này có thể được chứng đạt:
- Toàn bộ bốn tầng thiền, có thể thành tựu bởi: Chánh niệm về hơi thở; tu tập mười biến xứ kasina; Quán lòng quân bình (Tâm xả) - thuộc về thiền tứ vô lượng tâm (bốn tấm lòng cao cả).
- Ba tầng thiền đầu tiên: nhờ sự phát triển của lòng tốt (tâm từ), lòng thương (tâm bi), và lòng vui (tâm hỷ).
- Chứng đạt sơ thiền: Quán sự bất tịnh (quán tử thi); Quán chiếu 32 phần của cơ thể..
- Cận định: Quán tưởng về Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng Đoàn; Quán niệm về đức hạnh, về sự rộng lượng, về sự lặng tắt (Niết Bàn) và về sự chết; Quán chiếu về sự bất tịnh ô uế của thức ăn; Phân tích bốn yếu tố (tứ đại).
- Bốn tầng thiền vô sắc giới: Với cơ sở dựa trên bốn Tầng Thiền, có được nhờ thiền định trên các đối tượng tương ứng, và cũng bởi các đối tượng này mà các tầng thiền vô sắc được gọi tên như vậy, chúng là: Tầng không gian vô biên (không vô biên xứ), Tầng ý thức vô biên (thức vô biên xứ), Tầng hư vô (vô sở hữu xứ), Tầng không-nhận thức-cũng- không-phi nhận thức (phi-tưởng-phi-phi tưởng-xứ).
Này các Đệ tử, hãy tu tập thiền định, bởi người phát triển thiền định hiểu mọi sự đúng như chúng thực là. Và đó là những gì? Đó là sự sinh ra và mất đi của cơ thể, của cảm giác, của ký ức, của suy nghĩ, và của ý thức.
Vậy nên, với chân trí tuệ, năm uẩn phải được thấu hiểu. Với chân trí tuệ, u mê và ham muốn phải được dứt bỏ. Với chân trí tuệ, An tịnh (định) và Tuệ quán (minh sát) phải được tu tập và phát triển.
Đây là con đường Trung đạo mà Như Lai đã giác ngộ, cho ra tầm nhìn, cho ra hiểu biết, đưa đến yên bình, đưa đến sáng tỏ, đưa đến tỉnh thức, đưa đến Niết Bàn.
Người đi theo đường này, Sẽ đoạn tận khổ đau.
Nguồn: Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)