- 1. Hiểu biết về thiện và bất thiện
- 2. Hiểu biết về ba đặc tướng
- 3. Những câu hỏi vô ích
- 4. Năm ách trói buộc (Kiết sử)
- 5. Chú tâm không thích đáng (Phi như lý tác ý)
- 6. Sáu quan điểm về cái tôi
- 7. Chú tâm thích đáng (Như lý tác ý)
- 8. Bậc dự lưu
- 9. Mười ách trói buộc (Kiết sử)
- 10. Bậc thánh nhân
- 11. Chánh chi kiến thế tục và xuất thế
- 12. Liên hệ với các chi phần khác
- 13. Vượt qua khỏi mọi luận thuyết
- 14. Ba đặc tướng
- 15. Những quan điểm và tranh luận về cái tôi
- 16. Quá khi, hiện tại và tương lai
1. Hiểu biết về thiện và bất thiện
Lại nữa, ở đây bậc Thánh đệ tử hiểu được những gì là thiện và là gốc của thiện, hiểu được những gì là bất thiện và là gốc của bất thiện. Như vậy, vị ấy sở hữu Chánh Tri Kiến.
Và này, thế nào là "bất thiện"?
1.Sát sinh là bất thiện
2. Trộm cắp là bất thiện
3. Tà dâm là bất thiện
4. Nói dối là bất thiện
5. Nói lời chia rẽ là bất thiện
6. Nói lời độc ác là bất thiện
7. Nói lời phàm phiếm là bất thiện
8. Có lòng tham là bất thiện
9. Có lòng hận là bất thiện
10. Có tà kiến là bất thiện
Và này, thế nào là gốc của bất thiện? Tham lam (Tham) là gốc của bất thiện, Hận thù (Sân) là gốc của bất thiện, U mê (Si) là gốc của bất thiện.
Vậy nên, Ta nói rằng, nghiệp bất thiện có ba loại:, do bởi tham lam, do bởi hận thù, hoặc do bởi u mê.
Vì "Bất thiện Nghiệp" là hành động có chủ ý về thân thể, lời nói, và ý nghĩ, mà có gốc rễ ở tham lam, hận thù, và u mê. Nên nó được xem là "bất thiện", tức là không lành, không tốt, không khéo. Vì nó tạo nên những kết quả xấu ác và khổ đau cho đời này hoặc đời sau. Và chính trạng thái của ý định hay chủ ý mới là cái mà được tính là "nghiệp" (hành động). Nó có thể được biểu lộ bởi hành động về thân thể hoặc lời nói (thân nghiệp, khẩu nghiệp); còn nếu như không biểu hiện ra bên ngoài, nó được xem là một "ý nghiệp".
Trạng thái của tham lam (tham), cũng như hận thù (sân), luôn được đi kèm bởi u mê (si), cái sau chính là cội gốc của mọi điều ác. Tham và sân, mặc dù vậy, lại không thể cùng tồn tại trong cùng một khoảnh khắc của ý thức.
Và này, thế nào là "thiện"?
1. Tránh xa sát sinh là thiện
2. Tránh xa trộm cắp là thiện
3. Tránh xa tà dâm là thiện
4. Tránh xa nói dối là thiện
5. Tránh xa nói lời chia rẽ là thiện
6. Tránh xa nói lời độc ác là thiện
7. Tránh xa nói lời phàm phiếm là thiện
8. Không có lòng tham là thiện
9. Không có lòng hận là thiện
10. Không có tà kiến là thiện
Mười điều này được gọi là "Thiện Nghiệp".
2. Hiểu biết về ba đặc tướng
3. Những câu hỏi vô ích
4. Năm ách trói buộc (Kiết sử)
1. Theo chủ nghĩa thường kiến (niềm tin về sự thường hằng), tức là niềm tin rằng có một linh hồn, một bản ngã, hay một cái tôi nào đó, tồn tại độc lập với cơ thể vật chất, tiếp tục sống mãi kể cả sau khi cơ thể bị vứt bỏ.
2. Theo chủ nghĩa đoạn kiến (niềm tin về sự đoạn diệt), tức là một niềm tin duy vật về thế giới này có trước và đã tạo ra "cái tôi", thế nên nó sẽ bị đoạn diệt vào thời điểm cái chết của cơ thể sống. Về mười “Ách trói buộc”, xem ở trang 35
5. Chú tâm không thích đáng (Phi như lý tác ý)
Ở đây, một người ít học phàm phu không biết những gì là đáng hay không đáng để chú tâm, người ấy chú tâm vào những gì không thích đáng, không chú tâm vào những gì thích đáng.
Và người ấy chú tâm không thích đáng như sau: "Ta có mặt ở quá khứ? Hay ta không có mặt ở quá khứ? Ta là gì ở quá khứ? Ta là thế nào ở quá khứ? Trước đó ta đã là gì và ta đã có mặt như thế nào ở quá khứ?
Ta có mặt ở tương lai? Hay ta không có mặt ở tương lai? Ta là gì ở tương lai? Ta là thế nào ở tương lai? Sau đó ta sẽ là gì và ta sẽ có mặt như thế nào ở tương lai?"
Và người ấy cũng nghi ngờ về mình ở hiện tại: "Ta có mặt ở đây? Hay ta không có mặt ở đây? Ta là gì? Ta là thế nào? Chúng sinh này, nó từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?"
6. Sáu quan điểm về cái tôi
Với ai có sự chú tâm không thích đáng như vậy, người ấy chấp nhận một trong sáu loại quan điểm này, coi chúng như là sự thật hiển nhiên: "Ta có cái tôi", hay: "Ta không có cái tôi", hay: "Với cái tôi, ta cảm nhận cái tôi", hay: "Với cái không phải tôi, ta cảm nhận cái tôi", hay: "Với cái tôi, ta cảm nhận cái không phải tôi", hoặc người ấy chấp nhận quan điểm sau: "Cái tôi này của ta—chính là cái biết và cái cảm nhận những quả báo của các nghiệp thiện ác đã làm ở chỗ này chỗ kia—cái tôi này là bất biến, trường tồn, vĩnh hằng, không chịu sự biến đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi".
Này các Đệ tử, nếu thực sự có cái tôi, thì cũng sẽ phải có cái gì đó thuộc về cái tôi. Thế nhưng cả “cái tôi” và “cái thuộc về cái tôi” đều không thể chấp nhận là thường hằng, thường còn. Vậy thì quan điểm: "Cái tôi và thế giới đều cùng là một, sau khi chết, ta sẽ trở thành vĩnh hằng, trường tồn, bất biến, tồn tại mãi mãi". Chẳng phải quan điểm đó là hoàn toàn ngu ngốc sao?
Vậy nên những quan điểm đó đều là tà kiến, chúng là những quan điểm sai lầm, quan điểm tăm tối, quan điểm vặn vẹo, quan điểm tranh cãi, quan điểm trói buộc. Và bị trói buộc bởi kiến chấp như vậy, người ít học phàm phu sẽ không giải thoát khỏi sinh-già-chết-sầu-đau-bi-ưu-não. Ta nói rằng người ấy sẽ không giải thoát khỏi khổ đau.
7. Chú tâm thích đáng (Như lý tác ý)
Ở đây, bậc khéo học thánh đệ tử nhận biết được các bậc Hiền thánh, khéo thuần thục và khéo tu tập giáo pháp của các bậc Hiền thánh. Vị ấy biết những gì là đáng hay không đáng để chú tâm, vị ấy chú tâm vào những gì thích đáng, không chú tâm vào những gì không thích đáng. Và vị ấy chú tâm thích đáng như sau: "Đây là khổ. Đây là nguyên nhân của khổ. Đây là sự chấm dứt của khổ. Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt củakhổ."
8. Bậc dự lưu
Và với sự chú tâm thích đáng như vậy, ba ách trói buộc được loại bỏ, đó là: Ảo tưởng về cái tôi, Nghi ngờ, Vướng mắc vào nghi lễ và hình thức.
Những vị đệ tử nào, với ba ách trói buộc đã được trừ bỏ, họ đều là những người "nhập vào dòng thánh" (Dự Lưu).
Hơn thống lĩnh cõi đất, Hơn được sinh cõi trời, Hơn bá chủ vũ trụ, Qủa Dự Lưu tối thắng.
9. Mười ách trói buộc (Kiết sử)
Có mười ách trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử, chúng là:
- Ảo tưởng về cái tôi
- Nghi ngờ
- Vướng mắc vào nghi lễ và hình thức
- Tham dục
- Sân hận
- Ham muốn hiện hữu ở Sắc Giới
- Ham muốn hiện hữu ở Vô Sắc Giới
- Ngã mạn
- Phóng tâm
- U mê
10. Bậc thánh nhân
Người đã giải thoát khỏi ba trói buộc đầu tiên được gọi là bậc Dự Lưu, tức là người đã nhập vào dòng chảy đưa đến Niết Bàn. Vị ấy sở hữu niềm tin không thể lay chuyển đối với Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Đoàn, và không thể vi phạm đến Ngũ Giới. Vị ấy chỉ phải tái sinh nhiều nhất cho đến bảy lần, và sẽ không ở những cõi thấp hơn thế giới loài người.
Tiếp theo, với trói buộc thứ tư và thứ năm đã được làm yếu đi trông thấy, vị ấy được gọi là bậc Nhất Lai, nghĩa là vị ấy chỉ còn phải tái sinh ở Dục Giới thêm một lần duy nhất và sau đó sẽ chứng đạt Giải Thoát.
Bậc Bất Lai, là vị đã đoạn diệt hoàn toàn tham dục và sân hận, chính là những thứ trói buộc chúng sinh phải tái sinh ở cõi Dục Giới, sau khi từ giã thân thể, vị ấy sẽ sinh ra ở một trong các cung trời của cõi Vô Sắc Giới, và chứng Niết Bàn tại đó mà không phải quay trở lại đời này.
Và cuối cùng là vị A-la-hán—bậc Tôn Kính—là người đã giải thoát khỏi toàn bộ mười ách trói buộc.
Mỗi giai đoạn trong bốn cấp độ chứng ngộ đã được đề cập ở trên, đều bao gồm "Thánh Đạo" (con đường Thánh) và "Thánh Quả", chẳng hạn như đạo quả Dự Lưu thì bao gồm "Thánh Đạo Dự Lưu" và "Thánh Quả Dự Lưu". Do vậy mà có tất cả là bốn cặp và tám hạng của những bậc "Thánh Nhân".
"Thánh Đạo" bao gồm mỗi một khoảnh khắc của việc bước vào sự chứng ngộ tương ứng. Còn "Thánh Quả" là chỉ đến những khoảnh khắc của ý thức mà diễn ra ngay sau thời điểm của sự chứng ngộ đó, như là kết quả của "Thánh Đạo", và tuỳ thuộc vào các điều kiện nhất định, chúng có thể được lặp lại vô số lần trong cuộc đời của cá thể.
11. Chánh chi kiến thế tục và xuất thế
Vậy nên, Chánh Tri Kiến, Ta nói có hai loại:
1. Quan điểm cho rằng trên đời này có sự bố thí, có sự cúng dường, có sự hy sinh, có quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có các chúng sinh tự khắc hiện hữu, có các sa-môn hay bà-la-môn sống đức hạnh và trong sạch, những người mà sau khi đã tự mình sáng tỏ và giác ngộ, tuyên bố với thế giới về đời này và đời sau. Này các Đệ tử, đó được gọi là "Chánh Tri Kiến thế tục"—cho quả lành, cho quả thế tục.
2. Ở đây, bất cứ cái gì thuộc về trí tuệ, thuộc về tuệ giác, thuộc về chánh kiến liên hệ với 'con đường' (Thánh đạo Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán)—cái tâm lúc này rút ra khỏi thế giới và liên hệ với con đường, con đường thánh được theo đuổi. Này các Đệ tử, đó được gọi là "Chánh Tri Kiến xuất thế"—không thuộc thế tục, siêu thế, liên hệ với con đường.
Và cũng như vậy, có hai loại của Bát Chánh Đạo: 1. Loại thế tục, được tu tập bởi "người phàm", nghĩa là những người còn chưa đạt tới cấp độ đầu tiên của sự giác ngộ, 2. Loại xuất thế, là Bát Chánh Đạo thực hành bởi những bậc Thánh Nhân.
12. Liên hệ với các chi phần khác
Ở đây, một người hiểu biết tà kiến là tà kiến và hiểu biết chánh kiến là chánh kiến, người ấy tu tập "Chánh Tri Kiến". Một người nỗ lực từ bỏ tà kiến và nỗ lực thành tựu chánh kiến, người ấy tu tập "Chánh Tinh Tấn". Một người chú tâm từ bỏ tà kiến và chú tâm thành tựu chánh kiến, người ấy tu tập "Chánh Niệm". Bởi vậy, có ba điều luôn đi cùng và đi theo Chánh Tri Kiến, đó là "Chánh Tri Kiến", "Chánh Tinh Tấn", và "Chánh Niệm".
13. Vượt qua khỏi mọi luận thuyết
Và giờ, nếu có ai hỏi rằng liệu Ta có chấp nhận bất kỳ luận thuyết nào hay không, người ấy cần được trả lời như sau: "Bậc Giác Ngộ đã vượt qua khỏi mọi luận thuyết, bởi bậc Giác Ngộ đã thấy được cơ thể là gì, sự sinh ra và mất đi của chúng. Ngài đã thấy được cảm giác là gì, sự sinh ra và mất đi của chúng. Ngài đã thấy được ký ức là gì, sự sinh ra và mất đi của chúng. Ngài đã thấy được suy nghĩ là gì, sự sinh ra và mất đi của chúng. Ngài đã thấy được ý thức là gì, sự sinh ra và mất đi của chúng. Vậy nên, bậc Giác Ngộ đã hoàn toàn giải thoát, không còn vướng mắc, nhờ sự chấm dứt, diệt tận, biến mất, từ bỏ, vứt bỏ của mọi suy diễn và luận kiến, khỏi mọi ám ảnh với "cái tôi", "cái của tôi" hay với ngã mạn.
14. Ba đặc tướng
Này các Đệ tử, dù cho những bậc Giác Ngộ có xuất hiện ở đời hay không, thì quy luật này sẽ vẫn tồn tại, sẽ vẫn là một định luật cố định và bất biến: đó là mọi tạo tác đều vô thường, mọi tạo tác đều khổ, mọi pháp đều vô ngã.
Từ "tạo tác" (hữu vi) ở đây bao hàm mọi thứ có sinh diệt, có điều kiện, hay nói cách khác là có sự "tạo tác", tức là mọi cấu thành có thể xảy ra của sự tồn tại, dù là tinh thần hay vật chất. Còn từ "pháp", tuy nhiên ở đây lại mang nghĩa rất rộng, nó bao hàm mọi sự vật và hiện tượng, kể cả thứ mà không sinh không diệt—vô vi, đó chính là Niết Bàn.
Chính bởi lý do này mà sẽ là sai khi nói rằng mọi pháp đều vô thường và khổ, bởi Niết Bàn là thường hằng và không chịu sự thay đổi. Cùng lý do tương tự, sẽ là chính xác khi nói rằng không chỉ mọi tạo tác (pháp hữu vi), mà cả mọi pháp (vô vi và hữu vi), đều trống vắng một "cái tôi" (vô ngã).
Một hiện tượng của cơ thể, hay một hiện tượng của cảm giác, của ký ức, của suy nghĩ, của ý thức, mà nó là thường hằng, thường còn, thường trú, và không chịu sự thay đổi, thứ như vậy người trí ở trên đời không có chấp nhận. Này các Đệ tử, ta cũng nói rằng không có một thứ như vậy.
Điều này là không thể xảy ra, điều này là không thể có được, đó là một người thành tựu Chánh Tri Kiến lại có thể chấp nhận các pháp là có ngã (cái tôi).
15. Những quan điểm và tranh luận về cái tôi
Bây giờ, nếu có ai nói: "Cái tôi của tôi chính là cảm giác", người ấy cần được trả lời như sau: "Này bạn, có ba loại cảm giác: dễ chịu, khó chịu, không-dễ-chịu-cũng-không-khó- chịu, trong ba loại cảm giác này, cái nào là cái tôi của bạn?" Bởi vì, tại thời điểm cảm nhận một trong ba cảm giác này, một người không thể cảm nhận hai cảm giác còn lại. Ba loại cảm giác ấy là vô thường, do tuỳ thuộc mà phát sinh, phải chịu sự biến đổi, tan rã, biến mất, và chấm dứt. Bất kỳ ai, trong lúc đang cảm nhận một trong các cảm giác ấy, mà nghĩ rằng đó chính là cái tôi của người ấy. Thì sau khi cảm giác đó chấm dứt, sẽ phải thừa nhận rằng cái tôi của mình đã biến mất. Và như vậy người ấy sẽ xem xét cái tôi này ngay trong thời hiện tại như là cái gì đó vô thường, sướng khổ xen lẫn, phải chịu sự sinh diệt.
Và nếu có ai nói: "Cái tôi của tôi không phải là cảm giác, cái tôi của tôi là thứ mà không cảm nhận cảm giác", người ấy cần được hỏi như sau: "Này bạn, ở nơi không có một cảm giác nào được cảm nhận, thì liệu bạn có suy nghĩ "đấy là tôi" được không?" Bởi vì, nếu cái tôi của người ấy là thứ không cảm nhận cảm giác, thì người ấy sẽ phải thừa nhận rằng tất cả những nơi không có cảm giác được cảm nhận sẽ phải là cái tôi của người ấy.
Hoặc một người khác có thể nói: "Cái tôi của tôi không phải là cảm giác và cũng không phải là thứ không cảm nhận cảm giác, cái tôi của tôi chính là thứ mà cảm nhận, nó có bản chất là để cảm nhận". Người ấy cần được hỏi như sau: "Này bạn, nếu mọi cảm giác trở nên chấm dứt và hoàn toàn biến mất, thì liệu bạn có suy nghĩ "đấy là tôi" được không?" Bởi vì, nếu cái tôi của người ấy là thứ mà cảm nhận, thì khi cảm giác chấm dứt và biến mất hoàn toàn, người ấy sẽ phải thừa nhận rằng cái tôi của mình không thể cảm nhận được gì.
Người nào nói rằng: "Tâm, ý nghĩ, hay ý thức, chính là cái tôi của tôi", khẳng định như vậy là không có cơ sở. Bởi với sự sinh ra và mất đi của tâm, ý nghĩ, hay ý thức, khi điều đó đã được nhận biết, thì với sự nhận biết đó, người ấy sẽ phải thừa nhận rằng cái tôi của mình đã sinh ra và mất đi.
Và này, sẽ thật tốt hơn cho người ít học phàm phu khi xem cái thân do tứ đại tạo thành này như là cái tôi của mình, còn hơn là với cái tâm. Bởi thật rõ ràng để nhìn thấy cái thân này có thể kéo dài trong một năm, hai năm, hay ba năm, bốn năm, năm năm, mười năm, hay hai mươi, một trăm năm và hơn nữa; nhưng với cái gọi là tâm, gọi là ý nghĩ, gọi là ý thức này, chúng sinh ra và mất đi liên tục, cả ngày lẫn đêm, lúc sinh là cái này, lúc mất là cái khác.
Vậy nên, bất cứ cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, hay ý thức nào, cho dù thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai, bên trong hay bên ngoài, thô kệch hay tinh tế, bình thường hay tốt đẹp, ở xa hay ở gần, một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn rằng: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".
Để cho thấy được bản chất vô ngã và trống vắng của thực tại, Thanh Tịnh Đạo Luận XVI đã trích dẫn bài kệ sau đây:
Có khổ, nhưng không người chịu khổ,
Có nghiệp, nhưng không người tạo nghiệp,
Niết bàn đây, nhưng chẳng có ai đạt,
Con đường đây, nhưng chẳng có ai đi.
16. Quá khi, hiện tại và tương lai
Và giờ, nếu có ai hỏi: "Này bạn, bạn đã tồn tại hay đã không tồn tại ở quá khứ? Bạn sẽ tồn tại hay sẽ không tồn tại ở tương lai? Bạn đang tồn tại hay đang không tồn tại ở hiện tại?” Người ấy cần được trả lời như sau: "Tôi đã tồn tại ở quá khứ, chứ không phải là tôi đã không tồn tại ở quá khứ. Tôi sẽ tồn tại ở tương lai, chứ không phải là tôi sẽ không tồn tại ở tương lai. Tôi đang tồn tại ở hiện tại, chứ không phải là tôi đang không tồn tại ở hiện tại.
Hiện thân mà tôi đã có ở quá khứ, đã là có thật ở thời điểm quá khứ, nhưng không có thật ở hiện tại và tương lai. Hiện thân mà tôi sẽ có ở tương lai, sẽ là có thật ở thời điểm tương lai, nhưng không có thật ở hiện tại và quá khứ. Hiện thân mà tôi đang có ở hiện tại, đang là có thật ở thời điểm hiện tại, nhưng không có thật ở quá khứ và tương lai.”
Ai thấy được Lý Duyên Khởi (Tuỳ Thuộc Phát Sinh), người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được Lý Duyên Khởi.
Giống như từ con bò mà cho ra sữa tươi, từ sữa tươi cho ra sữa đặc, từ sữa đặc cho ra bơ, từ bơ cho ra bơ lỏng, từ bơ lỏng lại cho ra tinh dầu bơ. Và khi nó đang là sữa tươi, nó không thể được tính là sữa đặc, hay bơ, hay bơ lỏng, hay tinh dầu bơ, mà chỉ là sữa tươi. Và khi nó là bơ, nó chỉ có thể được tính là bơ. Cũng như vậy, hiện thân mà một người đã có ở quá khứ, đã là có thật ở thời điểm quá khứ, nhưng không có thật ở hiện tại và tương lai. Hiện thân mà người ấy sẽ có ở tương lai, sẽ là có thật ở thời điểm tương lai, nhưng không có thật ở hiện tại và quá khứ. Hiện thân mà người ấy đang có ở hiện tại, đang là có thật ở thời điểm hiện tại, nhưng không có thật ở quá khứ và tương lai. Này các Đệ tử, tất cả chúng chỉ là những danh xưng và lối diễn đạt của thế gian, chỉ là những quy ước và cách nói của thế gian. Bậc Giác Ngộ sử dụng chúng nhưng không dính mắc vào chúng.
Do đó, những ai không hiểu đúng sự thực về cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, và ý thức, hoặc không thấy được sự phát sinh, sự chấm dứt, hay con đường đưa đến sự chấm dứt của chúng, người ấy sẽ dễ có những suy nghĩ: "Liệu bậc Giác Ngộ tiếp tục tồn tại hay không tồn tại sau khi chết,..."
HAI CỰC ĐOAN (THƯỜNG KIẾN, ĐOẠN KIẾN) VÀ CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO
Quả thực, nếu ai giữ quan điểm cho rằng linh hồn và thân thể là một, sống theo cuộc đời cao đẹp sẽ là không thể. Hoặc nếu ai giữ quan điểm cho rằng linh hồn là một thứ, thân thể lại là thứ khác, thì sống theo cuộc đời cao đẹp cũng sẽ là không thể. Từ bỏ hai cực đoan này, bậc Giác Ngộ thuyết giảng về con đường trung đạo, đó là:
LÝ DUYÊN KHỞI (Tùy thuộc phát sinh)
Do U Mê (vô minh) mà có Tạo Tác (hành)
Do Tạo Tác mà có Ý Thức (thức; khởi đầu bằng “thức tái sinh” ở trong thai mẹ)
Do Ý Thức mà có Thân Tâm (danh sắc)
Do Thân Tâm mà có Sáu Giác Quan (lục căn)
Do Sáu Giác Quan mà có Tiếp Xúc (xúc)
Do Tiếp Xúc mà có Cảm Giác (thọ) Do Cảm Giác mà có Ham Muốn (ái) Do Ham Muốn mà có Níu Bám (thủ) Do Níu Bám mà có Tồn Tại (hữu) Do Tồn Tại mà có Tái Sinh (sinh)
Do Tái Sinh mà có Già-Chết-Sầu-Đau-Bi-Ưu-Não
Như vậy là sự phát sinh của toàn bộ khổ uẩn này. Đó gọi là Sự Thật Cao Quý về Nguyên Nhân của Khổ.
Không vị thần nào, không Phạm Thiên, Đã tạo ra vòng sinh tử này,
Những hiện tượng trống vắng tuôn chảy, Do nhân duyên mà nên tất cả.
(Trích trong Thanh Tịnh Đạo Luận XIX)
Vị đệ tử nào với U Mê được diệt tận, với trí tuệ được sinh khởi, vị ấy không còn chủ ý các tạo tác thiện, không còn chủ ý các tạo tác bất thiện, hay không còn chủ ý các tạo tác tĩnh lặng.
Từ "tạo tác” ở đây, được hiểu trong ngữ cảnh của Lý Duyên Khởi (Tuỳ Thuộc Phát Sinh), là chỉ đến những hoạt động có chủ ý, có thể là thiện hoặc bất thiện, hay cụ thể hơn đó chính là những hành động tạo ra Nghiệp. Ba loại tạo tác đã đề cập ở văn bản trên, chúng bao hàm tất cả các hoạt động tạo nghiệp ở mọi tầng của ý thức và ở mọi giới của sự tồn tại. "Tạo tác thiện" vươn tới cả tầng Sắc Giới, trong khi "Tạo tác tĩnh lặng" thì chỉ bó hẹp trong tầng Vô Sắc Giới.
Vậy nên, nhờ sự chấm dứt và biến mất hoàn toàn của U Mê, Tạo Tác được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Tạo Tác, Ý Thức được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Ý Thức, Thân Tâm được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Thân Tâm, Sáu Giác Quan được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Sáu Giác Quan, Tiếp Xúc được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Tiếp Xúc, Cảm Giác được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Cảm Giác, Ham Muốn được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Ham Muốn, Níu Bám được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Níu Bám, Tồn Tại được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Tồn Tại, Tái Sinh được chấm dứt; nhờ sự biến mất của Tái Sinh, Già-Chết-Sầu-Đau-Bi-Ưu-Não được chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khổ uẩn này. Đó gọi là Sự Thật Cao Quý về Sự Chấm Dứt của Khổ.
NGHIỆP TÁC THÀNH TÁI SINH
Quả thực, các chúng sinh do bị u mê chôn vùi, do bị ham muốn trói buộc, luôn đi tìm những vui thích mới ở chỗ này chỗ khác, bởi thế mà sự tái sinh liên tục được tác thành.
Và với nghiệp được làm bởi tham sân si, có nguồn gốc, nguyên nhân và phát sinh bởi chúng: nghiệp này sẽ chín muồi ở bất cứ nơi nào chúng sinh hiện hữu. Và ở bất cứ nơi nào nghiệp của họ chín muồi, thì tại nơi đó họ cảm nhận quả báo của nghiệp ấy. Dù là ngay trong đời hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong các đời sau nữa.
SỰ CHẤM DỨT CỦA NGHIỆP
Tuy nhiên, với sự diệt tận của u mê, với sự sinh khởi của trí tuệ, với sự chấm dứt của ham muốn, sẽ không còn nữa là sự tái sinh trong tương lai.
Những nghiệp không làm bởi tham sân si, không có nguồn gốc, nguyên nhân hay phát sinh bởi chúng: những nghiệp ấy, nhờ sự dứt bỏ của tham sân si, thì đã được đoạn diệt, cắt sạch tận gốc rễ, như thân cây nhổ khỏi đất, bị phá huỷ, bị làm cho không mọc trở lại được nữa.
Về phương diện này, một người có thể chân chánh nói đến Ta như sau: "Sa-môn Gotama chủ trương về đoạn diệt, Ngài thuyết giảng về đoạn diệt và huấn luyện các đệ tử như vậy". Và đúng thực là ta có thuyết giảng về đoạn diệt—đó là sự đoạn diệt của tham lam, hận thù và u mê, đó là sự đoạn diệt của ác pháp, bất thiện pháp, và cả vô số những tai ương khác.
Lý Duyên Khởi hay Sự Tuỳ Thuộc Phát Sinh, là giáo lý về sự phụ thuộc nhân duyên của mọi hiện tượng tinh thần-vật chất. Cùng với giáo lý vô ngã, chúng hình thành nên một nền tảng không thể thiếu cho sự nhận thức rõ ràng và hiểu biết thực thụ về những lời dạy của Đức Phật. Chúng chỉ cho ta thấy, rằng những tiến trình tâm lý và vật lý, mà theo quy ước được gọi với những tên như người, động vật, v.v..., chúng không tình cờ ngẫu nhiên, vu vơ xuất hiện, mà là kết quả của nguyên nhân và điều kiện. Trên hết, Lý Duyên Khởi giải thích cho ta nguyên do của tái sinh và khổ đau là bởi tuỳ thuộc vào điều kiện, vào nhân duyên; và phần sau của nó đã chỉ cho ta thấy, rằng nếu các nhân duyên đó đã được dứt bỏ, thì mọi đau khổ cũng phải biến mất: Vậy nên Lý Duyên Khởi cũng dùng để làm sáng tỏ Sự Thật Cao Quý thứ hai và thứ ba, bằng việc giải thích chúng theo quan hệ nhân quả, từ gốc đến ngọn, trình bày chúng theo một thể thức triết học.
Biểu đồ dưới đây cho ta một cái nhìn lướt qua về 12 chuỗi nhân duyên trải dài qua ba đời sống liên tiếp ở quá khứ, hiện tại, và tương lai.
| Đời sống Quá khứ | 1. U Mê (vô minh) 2. Tạo Tác (hành) |
Tiến trình Nghiệp 5 nhân: 1, 2, 8, 9, 10 |
|
Đời sống Hiện tại | 3 . Ý Thức (thức) 4. Thân Tâm (danh sắc) 5. Sáu Giác Quan (lục căn) 6. Tiếp Xúc (xúc) 7. Cảm Giác (thọ) |
Tiến trình Tái Sinh 5 quả: 3-7 |
| 8. Ham Muốn (ái) 9. Níu Bám (thủ) 10 Tồn Tại (hữu) |
Tiến trình Nghiệp 5 nhân: 1, 2, 8, 9, 10 | |
|
Đời sống Tương lai | 11 Tái Sinh (sinh) 12 Già-Chết (lão-tử) |
Tiến trình Tái Sinh 5 quả: 3-7 |
Mắt xích 1-2, cùng với 8-10, đại diện cho tiến trình Nghiệp, bao gồm năm "nghiệp nhân" của tái sinh.
Mắt xích 3-7 cùng với 11-12, đại diện cho tiến trình Tái Sinh, bao gồm năm "nghiệp quả".
Điều phù hợp tương tự cũng được nhắc đến trong bộ "Phân tích Đạo" thuộc Tiểu Bộ Kinh: Năm nhân ở quá khứ, Năm quả ở hiện tại, Năm nhân giờ ta gieo, Năm quả ta sẽ hái. (Trích trong Thanh Tịnh Đạo Luận XVII)
Nguồn: Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)