1. Khái quát chế định trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội

Chế định lớn về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội (mà trong lần pháp điển hóa thứ ba đã thay thuật ngữ “chưa thành niên” bằng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”) được ghi nhận riêng biệt trong Chương XII (Chương cuối cùng) của Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 với 18 điều luật (90-107).

Chính vì vậy, dưới đây chúng ta sẽ phân tích nội hàm các quy phạm của chế định này chỉ đề cập những vấn đề nào có thể được coi là mới và khác so với các quy định trong Chương X tương ứng của Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999), đồng thời cơ bản và quan trọng hơn cả mà qua đó thể hiện rõ nhất nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của nhà làm luật Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội.

Đối với chế định này chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về từng ý dưới đây.

 

2. Tiêu đề và cấu trúc chương XII trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015

Về tiêu đề (tên gọi) và cấu trúc Chương XII trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số đặc điểm cơ bản chúng ta cần bàn tới như sau:

- Nhà làm luật đã thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” như đã sử dụng trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) và Bộ luật Hình sự (năm 1999) bằng cụm từ là “người dưới 18 tuổi” và đặt tên gọi mới cho Chương này là “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi (mà trước đây nhà làm luật gọi là “người chưa thành niên”) vì vậy, để bảo đảm cho việc sử dụng thuật ngữ thống nhất trong việc nghiên cứu nên từ đây trở đi trong cuốn sách này sẽ thông nhất rằng: Nói chung trong tất cả mọi trường hợp khi không có sự chỉ ra cụ thể hai độ tuổi của người chưa thành niên (từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) thì phạm trù “người chưa thành niên” tương ứng như thuật ngữ người “người dưới 18 tuổi” (nên sẽ chỉ gọi là người chưa thành niên); Trong những trường hợp khi nhà làm luật có phân chia cụ thể hai độ tuổi (như) thì sẽ theo các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự đổi mới và khác biệt so với Chương X tương ứng trong Bộ luật Hình sự (năm 1999), vì trong lần pháp điển hóa thứ ba này nhà làm luật đã phân chia các điều luật tương ứng thành năm mục và theo nhóm các quy định có cùng bản chất pháp lý liên quan đến nội dung được ghi nhận trong từng mục như sau: Mục 1 “Quy định chung về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” (các điều 90-91); Mục 2 “Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trưòng hợp được miễn trách nhiệm hình sự” (các điều 92-95); Mục 3 “Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” (các điều 96-97); Mục “Hình phạt” (các điều 98-101) và; Mục 5 “Quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xóa án tích” (các điều 102-107).

 

3. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nhìn chung, ngoài việc thừa kế tinh thần và nội dung các quy phạm cũ về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã bổ sung mới vào năm 2009 tại Điều 69 Bộ luật Hình sự (năm 1999), việc phân tích nội hàm các quy phạm tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy rõ bản chất nhân đạo và tính nhân văn trong chính sách hình sự của nhà làm luật dành cho người chưa thành niên phạm tội là “nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” (đoạn 1 khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015), chứ không phải là để trừng phạt họ.

 

4. Những điểm mới của nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Vì qua nội hàm của nguyên tắc này tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy những điểm mới dưối đây tại các khoản 1, 2 và 4 được nhà làm luật khẳng định qua lần pháp điển hóa thứ ba pháp luật hình sự Việt Nam là:

- Tại khoản 1 quy định về việc xử lý người chưa thành niên phạm tội đã bổ sung thêm hai điểm mới về hai yêu cầu thể hiện rất rõ bản chất nhân đạo và tính nhân văn của chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội như “phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưối 18 tuổi” (đoạn 1), “phải căn cứ vào độ tuổi” của họ (đoạn 2).

- Tại khoản 2 ngoài việc quy định mới ba điều kiện bắt buộc chung mà người chưa thành niên phạm tội có thể được hưởng biện pháp tha miễn nhân đạo nhẹ nhất về miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục được ghi nhận tại Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu họ có đủ các điều kiện bắt buộc chung là phải “có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả” và “không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này” tức là 06 trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chung dành cho người đã thành niên, nhà làm luật còn ghi nhận bổ sung kèm theo từng điều kiện riêng biệt mối tại các điểm a, b và c tương ứng với 02 độ tuổi khác nhau của người chưa thành niên mà nếu họ đáp ứng đủ thì mối được hưởng biện pháp tha miễn, mà cụ thể là:

+ Nếu thuộc lứa tuổi trên của người chưa thành niên, tức là “từ đủ 16 tuổi đến dưối 18 tuổi”, thì loại tội phạm do họ thực hiện phải thuộc hai loại nhẹ hơn trong số bốn loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 — “tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng’ (ngoại trừ 08 cấu thành tội phạm được liệt kê tại điểm a Điều này, tức Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

+ Nếu thuộc độ tuổi dưối độ tuổi của người chưa thành niên, tức là “từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thì loại tội phạm do họ thực hiện phải thuộc loại nhẹ hơn loại tội phạm nặng nhất (tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015) về “tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12” Bộ luật Hình sự năm 2015 (ngoại trừ 14 cấu thành tội phạm được liệt kê tại điểm b Điều này, tức Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Nếu “là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” thì người chưa thành niên thuộc cả hai độ tuổi đều được hưởng biện pháp tha miễn nhân đạo là miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục được nêu tại Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tại khoản 4 nhà làm luật đã ghi nhận một quy phạm phản ánh rõ bản chất nhân đạo và tính nhân văn có ý nghĩa bắt buộc đối với xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội vì xuất phát từ tinh thần của quy phạm tại khoản này cho phép khẳng định rằng, các bước theo thứ tự lần lượt trong việc xét xử người chưa thành niên phạm tội cần và buộc phải tuân thủ là:

+ Trước hết, Tòa án phải miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội và áp dụng một trong ba biện pháp giám sát - giáo dục (tại Mục 2) hoặc biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưõng (tại Mục 3) Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015;

+ Nếu như một trong các biện pháp đó “không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa”, thì có thể xem xét để miễn hình phạt cho họ;

+ Nếu biện pháp miễn hình phạt cũng không đưa đến hiệu quả, thì cuối cùng;

+ Tòa án mới được phép áp dụng hình phạt.

 

5. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự

Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được ghi nhận tại Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 với 04 điều từ Điều 92 đến Điều 95, mà việc phân tích nội hàm của các quy phạm về các biện pháp nhân đạo này đối với người chưa thành niên phạm tội cho thấy các đặc điểm cơ bản mới và khác so với Bộ luật Hình sự (năm 1999) mà lần đầu tiên được nhà làm luật ghi nhận trong lần pháp điển hóa thứ ba là:

- Bằng quy phạm tại Điều 92 “Điều kiện áp dụng” Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đề cập: Việc quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng ba biện pháp giám sát - giáo dục do luật định là thẩm quyền riêng chỉ của ba cơ quan tiến hành tố tụng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) và; Điều kiện cụ thể để được áp dụng là có sự đồng ý của người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

- Bằng các quy phạm tại Điều 93 “Khiển trách” (gồm 04 khoản) Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận biện pháp giám sát - giáo dục nhân đạo mới này trong lần pháp điển hóa thứ ba là: Mục đích áp dụng biện pháp này đối với người chưa thành niên phạm tội là “nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả phạm tội gây ra với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ” (khoản 1); Hai trường hợp tương ứng với hai độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội được áp dụng (khoản 2) - người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng... (điểm a) và, người dưổi 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm b) Khoản 3 - cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này và điều kiện cụ thể áp dụng biện pháp này; Khoản 3 - các nghĩa vụ cụ thể mà người bị khiển trách phải thực hiện và; Khoản 4 — về thời gian thực hiện các nghĩa vụ nêu tại các điểm b và c khoản 3 Điều này là từ 03 tháng đến 01 năm.

- Bằng các quy phạm tại Điều 94 “Hòa giải tại cộng đồng” (gồm 04 khoản) Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận biện pháp giám sát - giáo dục nhân đạo mói này trong lần pháp điển hóa thứ ba là: Khoản 1 đề cập quy định việc áp dụng biện pháp này trong hai trường hợp tương ứng vối hai độ tuổi người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng... (điểm a) và, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng nêu tại điểm b khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 — cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này và điều kiện cụ thể áp dụng biện pháp này; Khoản 3 — các nghĩa vụ cụ thể mà người bị áp dụng biện pháp giám sát-giáo dục này phải thực hiện; và Khoản 4 — “cơ quan có thẩm quyền ấn định thòi điểm xin lỗi, thời gian thực hiện nghĩa vụ... từ 03 tháng đến 01 năm”.

- Bằng việc sửa đổi, bổ sung Điều 94 “Hòa giải tại cộng đồng” (gồm 04 khoản) Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận tại khoản 1, 2 một số điểm mới mà Bộ luật Hình sự (năm 1999) chưa quy định về biện pháp giám sát - giáo dục nhân đạo này trong lần pháp điển hóa thứ ba là: Khoản 1 (gồm hai điểm a và đề cập sự phân biệt cụ thể các điều kiện tương ứng với hai độ tuổi của người chưa thành niên được hưởng biện pháp này (mà Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có); khoản 2 (gồm 04 điểm a, b, c và các nghĩa vụ cụ thể mà người chưa thành niên phạm tội phải thực hiện trong thời gian được giao cho úy ban nhân dân cấp xã giám sát - giáo dục.

Trân trọng!