1. Quy định chung về chế độ sở hữu toàn dân với đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được xây dựng và phát triển từ Hiến pháp năm 1980, được kế thừa và phát triển tại Hiến pháp năm 1992. Các Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai đều quy định về sở hữu toàn dân đối với đất đai. Luật đất đai năm lần đầu tiên quy định Nhà nước trong vai trò người đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, có quyền của người chủ sở hữu đại diện, Từ đó, nhà nước có quyền định đoạt đất đai thông qua việc quyết định mục đích sử dụng đất từ việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, quyết định việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất. Ngoài ra, nhà nước trong vai trò người đại diện chủ sở hữu có quyền điều tiết các lợi ích từ đất đai thông qua chính sách tài chính về đất đai.

Cùng với việc xác lập rõ vai trò của Nhà nước, pháp luật đất đai tiếp tục mở rộng quyền cho người sử dụng đất, dù đó là tổ chức hay hộ gia đình, cá nhân trong nước, là nhà đầu tư nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việc bảo hộ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất chính là khía cạnh thứ hai trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam, phản ánh một nét đặc trưng tiêu biểu của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Đặc điểm lịch sử về việc chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam

Khác với các nước Đông Nam á, Việt Nam là nước duy nhất cho đến đầu thế kỉ XX quá trình tư hữu hoá đất đai vẫn chưa hoàn thành. Mặc dù vậy, sẽ là sai lầm khi ai đó cho rằng ở Việt Nam không tồn tại sở hữu tư nhân về ruộng đất. Do những điều kiện mảnh đất mà người nông dân canh tác đều hàm chứa công sức đầu tư của nhà nước.

Mặc dù quyền sở hữu tối cao của nhà nước về đất đai bắt đầu manh nha hình thành vào triều Lý (thế kỉ thứ XI) song nó chỉ thực sự được xác lập một cách tương đối vững chắc từ thời Lê sơ (thế kỉ thứ XV) và được tiếp tục duy trì trong các thế kỉ sau. Quá trình xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với đất đai được đánh dấu bằng các sự kiện chủ yếu sau đây:

+ Nhà Lý sau khi giành được ngôi báu và củng cố vững chắc quyền lực thống trị của mình đã cho tiến hành đo đạc lại ruộng đất trong cả nước nhằm xác lập chủ quyền của Nhà nước đối với toàn bộ đất đai trong cả nước; quá trình xác lập quyền sở hữu này được tiếp tục thực hiện dưới thời nhà Trần bằng việc vua Trần lập ra một chức quan chuyên lo về việc điền địa, trông coi đê điều;

+ Thời nhà Lê, sau cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh giành được thắng lợi năm 1428, vua Lê cho tiến hành thống kê ruộng đất trong cả nước: “Ruộng đất của các quan tỉ ngạch cũ, của các thế gia triều trước, của những người dân tuyệt tự, cũng là ruộng đất và sản vật từng mùa của ngụy quan, của lính tron hạn đến tháng tư năm sau thì phải nộp lên”.^ Cùng với việc thống kê nắm bắt tình hình ruộng đất, năm 1429 nhà Lê đã tiến hành thu hồi ruộng đất của bọn quan lại nhà Minh, của ngụy quan chiếm đoạt, số ruộng đất của nhân dân bị bỏ hoang, của lính trốn để sung làm ruộng đất của công. Đồng thời, nhà nước cũng quản lí chặt chẽ ruộng đất công thông qua việc nhà vua ra lệnh cho các phủ làm sổ ruộng đất, sổ hộ.

Trên cơ sở thống kê và tịch thu các nguồn đất đai, nhà nước phong kiến trung ương đã xác lập quyền sở hữu bằng các chính sách và biện pháp cụ thể như thi hành chính sách lộc điền, quân. Theo đó, nhà Lê phân chia các ruộng đất công cho dân các làng, xã với thời hạn chia lại ruộng đất là 6 năm một lần. Như vậy, với những chính sách chặt chẽ và tương đối triệt để của nhà Lê về ruộng đất dẫn đến kết quả là: “... quyền sở hữu về ruộng đất của làng, xã bị can thiệp khả mạnh. Trước đây, công xã vừa là người quản lí, vừa là người tổ chức phân phổi cho các thành viên (nông dân) thì nay công xã chỉ còn là người quản lí ruộng cho nhà nước, giúp nhà nước phân chia ruộng, thu thuế theo quy định chung. Quyền tự trị của làng, xã trong lĩnh vực này bị huỷ bỏ dần”.^ Tuy nhiên, đến cuối triều Lê (thế kỉ thứ XVIII) do sự suy yếu của chính quyền phong kiến trung ương đã dẫn đến việc làm suy yếu quyền sở hữu nhà nước đối với ruộng đất. Tình trạng mua bán, chiếm đoạt ruộng công điền diễn ra khá phổ biến.

Tóm lại: Quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai được hình thành từ rất sớm ở nước ta xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập tự chủ cũng như đòi hỏi của việc phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước. Hình thức sở hữu này bắt đầu manh nha từ thê kỉ thứ XI, được củng cố vững chắc ở thế kỉ thứ XV và tiếp tục được duy trì ở các triều đại phong kiến tiếp theo với quy mô và mức độ khác nhau.

3. Quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai trong lịch sử các bộ luật cổ

Mặc dù chế độ ruộng đất công được nhà nước phong kiến bảo hộ và phát triển mạnh mẽ nhất trong thời kì Lê sơ song bên cạnh đó còn tồn tại quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất. Hình thức sở hữu này bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ thời Lý - Trần: “ở Việt Nam đã có sự tổn tại và phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về đất đai (Điều 382 Quốc triều Hình luật). Người nào tranh giành nhà đất thì phải biếm 2 tư, nếu có chúc thư mà còn tranh giành thì cũng xử biếm như thế và phải tước mất cả phần của mình nữa (Điều 354 Quốc triều Hình luật). Nếu khai man ruộng đất của người khác là của mình thì phải biếm 3 tư và phải trả tiền đất cho chủ cũ (Điều 353 Quốc triều Hình luật) V.V..

Bước sang thế kỉ XVI, ruộng đất tư hữu phát triển mạnh mẽ hơn so với thời kì trước đó. Chế độ chiếm hữu lớn tư nhân về ruộng đất là một trong những tiền đề dẫn đến việc chấm dứt thời kì thống trị của nhà Lê sơ và sự thống nhất của cả nước dưới một chính quyền chung. Các cuộc chiến tranh liên miên nổ ra ở các thế kỉ XVI - thế kỉ XVIII không những tàn phá nghiêm trọng nền sản xuất nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp địa chủ, phong kiến xâm chiếm ruộng đất công và ruộng đất của nông dân. Thế kỉ XVIII được ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc bởi sự phân chia đất đai và tranh giành quyền lực thống trị của hai tập đoàn phong kiến đàng Ngoài (vua Lê - chúa Trịnh) và đàng Trong (nhà Nguyễn). Sự tranh giành quyền lực của 2 tập đoàn phong kiến này đã tác động mạnh mẽ lên chính sách đất đai nói chung và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất nói riêng ở nước ta trong thế kỉ XVIII. Cụ thể:

- Về ruộng đất tư ở đàng Ngoài, do sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất ở những thập kỉ đầu của thế kỉ thứ XVIII đã ảnh hưởng lớn đến thu nhập của nhà nước, làm sút giảm đáng kể cho nguồn thu của nhà nước. Dần đến việc buộc nhà nước phải huỷ bỏ lệ miễn thuế cho ruộng tư vốn được thực hiện suốt từ thế kỉ XV cho đến lúc đó. Kết quả là nhà nước quyết định đánh thuế đối với cả ruộng đất công và ruộng đất tư nhung với mức độ khác nhau. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho tầng lóp quan lại đóng vai trò chủ chốt trong giai cấp phong kiến, năm 1724, chúa Trịnh cùng với việc ban cấp ruộng đất huệ dưỡng, ruộng sứ thần và các phát triển tập quán chiếm hữu đất đai của cha ông trong lịch sử.

Người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất?

1. Người đứng đầu của tổ chức, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với việc sử dụng đất của tổ chức mình.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích; đất phi nông nghiệp đã giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân, các công trình công cộng phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và công trình công cộng khác của địa phương.

3. Người đại diện cho cộng đồng dân cư là trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố hoặc người được cộng đồng dân cư thỏa thuận cử ra đối với việc sử dụng đất đã giao, công nhận cho cộng đồng dân cư.

4. Người đứng đầu cơ sở tôn giáo đối với việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo.

5. Chủ hộ gia đình đối với việc sử dụng đất của hộ gia đình.

6. Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với việc sử dụng đất của mình.

7. Người có chung quyền sử dụng đất hoặc người đại diện cho nhóm người có chung quyền sử dụng đất đối với việc sử dụng đất đó.

Người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với đất được giao để quản lý?

1. Người đứng đầu của tổ chức chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất trong các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức được giao quản lý công trình công cộng, gồm công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm;

b) Tổ chức kinh tế được giao quản lý diện tích đất để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư;

c) Tổ chức được giao quản lý đất có mặt nước của các sông và đất có mặt nước chuyên dùng;

d) Tổ chức được giao quản lý quỹ đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê tại địa phương.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở thuộc địa phương.

4. Người đại diện cho cộng đồng dân cư là người chịu trách nhiệm đối với đất được giao cho cộng đồng dân cư quản lý.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến pháp luật đất đai, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến 24/7. Mọi vướng mắc pháp lý của Bạn liên quan đến luật đất đai sẽ được Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê