Tăng giảm cỡ chữ:

Cơ sở xác lập chế độ đất đai và chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai. Quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể hơn về vấn đề này và Cơ sở xác lập chế độ đất đai.

1. Khái niệm và cơ sở xác lập chế độ đất đai 

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.

Cơ sở xác lập chế độ đất đai

  • Một số luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính tất yếu khách quan của việc quốc hữu hóa ruộng đất.

Thứ nhất, xét trên phương diện kinh tế, việc tích tụ, tập trung đất đai đem lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc sản xuất nông nghiệp trong điều kiện duy trì hình thức sở hữu tư nhân về đất đai.

Thứ hai, tìm hiểu về nguồn gốc phát sinh, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin nhận thấy: đất đai không do bất cứ ai tạo ra, có trước con người và là “tặng vật” của thiên nhiên ban tặng cho con người, mọi người đều có quyền sử dụng. Không ai có quyền biển đất đai- tài sản chung của con người- thành của riêng mình.

Thứ ba, xét dưới góc độ kinh tế, hiệu quả kinh tế mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mang lại dựa trên sự khai thác tối đa có xu hướng dẫn đến kiệt quệ hóa đất đai. Mặt khác, xét về phương diện xã hội, sở hữu tư nhân về đất. đai vô hình chung trở thành phương tiện để giai cấp tư sản (Giai cấp chiếm hữu đất đai) thực hiện việc khai thác, bóc lột sức lao động của người lao động để làm giàu cho chính bản thân mình. Muốn giải phóng người lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột, xây dựng xã hội bình đẳng, tiến bộ và công bằng thì cần phải thủ tiêu hình thức sở hữu tư nhân về đất đai của giai cấp tư bản chiếm thiểu số trong xã hội.

Thứ tư, quốc hữu hóa đất đai do giai cấp vô sản thực hiện phải gắn với vấn đề giành chính quyền và thiết lập chính quyền vô sån.

Thứ năm, việc xóa bỏ chế độ tư hữu về ruộng đất của giai cấp tư sản phải là một quá trình tiến hành lâu dài, gian khổ.

  • Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai

Vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của học thuyết Mác – Lênin về quốc hữu hóa đất đai vào việc thực tiễn cách mạng Việt Nam: Quá trình quốc hữu hóa đất đai ở nước ta được thực hiện qua các giai đoạn lịch sử đấu tranh bằng các sự kiện sau đây:

- Ngay từ khi mới thành lập ( ngày 03/02/1930), Đảng ta luôn luôn quan tâm đến các vấn đề ruộng đất, coi việc giải quyết vấn đề ruộng đất là một nội dung quan trọng trong cách mạng dân tộc dân chủ.

- Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công: Chính quyền nhân dân tuyên bố bãi bỏ các luật lệ về ruộng đất của chế độ cũ

- Năm 1946, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về giảm tô, bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê.

- Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua luật cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến, cường hào... chia cho nông dân thực hiện canh tác,

- Trong những năm 1960, Miền bắc thực hiện phong trào “hợp tác hóa” vận động nông dân đóng góp ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác vào làm ăn tập thể trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất,

- Sau khi đất nước thống nhất ( ngày 30/4/1975), Quốc Hội thông qua Hiến pháp mới ( 1980) quy định rõ: “ Đất đai, cùng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong long đất ở vùng biển và thềm lục địa... đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19) và “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm” ( Điều 20). Đây là cơ sở pháp lý cao nhất xác định rõ toàn dân là chủ sở hữu đối với toàn bộ vốn đất quốc gia

- Sau đó Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp 1980 cũng tiếp tục khẳng định “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời... là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân.” (Điều 17). Sự khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân của các bản Hiến pháp dựa trên các cơ sở thực tiễn sau:

Thứ nhất, về mặt chính trị, ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức, mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó thuộc về toàn thể nhân dân.

Thứ hai, về phương diện lịch sử, ở nước ta hình thức sở hữu nhà nước về đất đai ( đại diện là vua ở các nhà nước phong kiến) đã xuất hiện từ rất sớm và tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc. Sự ra đời của hình thức sở hữu này xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ nền độc lập dân tộc.

Thứ ba, về mặt thực tế, hiện nay nước ta còn gần một nửa diện tích đất tự nhiên chưa sử dụng, chủ yếu là đất trống, đồi trọc. Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý sẽ giúp Nhà nước có điều kiện thuận lợi trong việc xây dụng, quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch phát triển chung nhằm quản lý chặt chẽ và từng bước đưa diện tích đất này vào khai thác sử dụng hợp lý đi đôi với việc cải tạo, bồi bổ vốn đất đai quý giá của quốc gia.

Thứ tư, các quan hệ quản lý và sử dụng đất do Nhà nước thống nhất quản lý đã mang tính ổn định lâu dài. Nay nếu thay đổi hình thức sở hữu đất đai này sẽ dẫn đến những sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, làm tăng tính phức tạp của quan hệ đất đai, thậm chí dẫn đến sự mất ổn định về chính trị - xã hội của đất nước.

+ Một số đặc điểm về việc chiếm hữu ruộng đất trong lịch sử Việt Nam.

Quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai được hình thành từ rất sớm ở nước ta xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập, tự chủ cũng như đòi hỏi của việc phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước. Hình thức sở hữu này bắt đầu manh nha từ thế kỉ thứ XI, được duy trì củng cố vững chắc ở thế kỷ thứ XV và tiếp tục được duy trì ở các triều đại phong kiến tiếp theo với quy mô và mức độ khác nhau.

Tóm lại: Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay được xây dựng không chỉ dựa trên những luận cứ khoa học của học thuyết Mác- Lênin về quốc hữu hóa đất đai mà còn căn cứ vào những điều kiện thực tiễn đặc thù của nước ta, cũng như kế thừa và phát triển tập quán chiếm hữu đai của ông cha trong lịch sử.

2. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai

2.1.  Quyền chiếm hữu đất đai

Quyền chiếm hữu đất đai là quyền của Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước. Dưới góc độ pháp lý, quyền chiếm hữu đất đai có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ nó là cơ sở đầu tiên để xác lập quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thực hiện quản lý thống nhất toàn bộ vốn đất đai nhưng Nhà nước lại không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất mà lại trao quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Nhà nước không mất đi quyền chiếm hữu đất đai của mình, bởi Nhà nước thực hiện quyền chiến hữu đất đai một cách gián tiếp thông qua các hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ, vừa mang tính pháp lý như đo đạc, khảo sát, đánh giá, hệ thống hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính, sổ sách địa chính... để nắm được biến động đất đai qua. Việc phân biệt quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước với quyền chiếm hữu đất đai của người sử dụng đất ổn định, lâu dài. Cụ thể:

Thứ nhất, Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu đất đai trên cơ sở là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai. Còn người sử dụng đất thực hiện quyền chiếm hữu đất đai trên cơ sở quyền sử dụng đất của mình. Điều đó có nghĩa là họ chiếm hữu đất đai khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng. Sự chiếm hữu đất đai này đi liền với yêu cầu bắt buộc phải sử dụng đất, nếu người dụng đất chiếm hữu đất đai mà không sử dụng đất, không được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép thì họ sẽ bij thu hồi đất. Mặt khác, quyền sử dụng đất của người sử dụng là quyền phái sinh. Tính phái sinh của quyền - dụng đất thể hiện quyền này chỉ có thể phát sinh trên cơ sở được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước là vĩnh viễn, trọn vẹn. Tính vĩnh viễn thể hiện ở chỗ, nhà nước không bao giờ mất đi quyền chiếm hữu đất đai của mình mặc dù đã giao hoặc chưa giao đất cho bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng ổn định, lâu dài. Tính trọn vẹn thể hiện ở chỗ: Nhà nước chiếm hữu toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, bao gồm đất liền, hải đảo và vùng đất ngập nước thuộc khu vực hải đảo. Còn người sử dụng đất chỉ được quyền chiếm hữu tăng diện tích đất nhất định mà Nhà nước giao, cho thuê trong một khoảng thời gian nhất định và không được làm thay đổi mục đích sử dụng đất mà Nhà nước đã xác định trong quyết định giao đất, cho thuê đất,

Thứ ba, nếu quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước là gián tiếp, khái quát thi quyền chiếm hữu đất đai của người sử dụng đất lại mang tính trực tiếp, cụ thể đối với từng mảnh đắt nhất định được xác định rõ diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng.

2.2. quyền sử dụng đất đai

Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất đai làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất.

Với tư cách đại diện chủ sở đất, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định, lâu dài; thông qua các hình thức chủ yếu sau: Xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân định mục đích sử dụng cho từng loại đất cụ thể; Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Không nên đồng nhất giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất, bởi lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể:

- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu, quyền sử dụng đất là quyền phái sinh xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất.

- Quyền sở hữu đất đai là loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là quyền không trọn vẹn, không đầy đủ.

Tính không đầy đủ của quyền sử dụng đất thể hiện qua:

- Người sử dụng đất không có đủ tất cả quyền năng như Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu

- Không phải bất cứ người nào cũng có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng có quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà pháp luật quy định.

- Không phải đối với bất cứ đất nào người sử dụng cũng có đầy đủ chín quyền năng trên đây. Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo hình thức giao đất trả tiền sử dụng đất và thuế đất theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc đã được trả tiền thuê đất trước cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5. năm mới được pháp luật cho hưởng đầy đủ chín quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất đai.

- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền phụ thuộc.

Tính phụ thuộc của quyền sở hữu đất thể hiện ở chỗ người sử dụng đất không tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền năng của mình mà chỉ được quyết định một số vấn đề, cơ bản vẫn phải hành động theo ý chỉ của Nhà nước. Nếu làm trái quy định Nhà nước sẽ thu hồi đất.

Về mặt lý luận, quyền sử dụng đất của Nhà nước với quyền sử dụng đất của người sử dụng có sự khác nhau, thể hiện qua: Quyền sử dụng đất của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai. Nên quyền sử dụng đất là vinh vẹn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế. Còn quyền sử dụng đất của người sử dụng đất bị Nhà nước hạn chế bời diện tích, thời hạn, mục đích sử dụng... Nếu như quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất mang tính trực tiếp và cụ thể.

2.3. Quyền định đoạt đất đai

Quyền định đoạt đất đai là quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai, Đây là quyền quan trong, chỉ Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai mới được thực hiện quyền định đoạt đất đai. Đất đai là tài sản đặc biệt khác với tài sản thông thường, vì vậy Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai không giống việc định đoạt tài sản của các chủ sở hữu khác, Nhà nước chỉ được thực hiện việc quyết định số phận pháp lý của đất thông qua quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất... chứ không có quyền định đoạt số phận thực tế của đất đai. Dù đất đai đã được giao cho bất kỳ tổ chức, các nhân nào sử dụng thì trên thực tế vẫn thuộc sở hữu toàn dân và chịu sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất thông qua các phương thức chủ yếu:

Thứ nhất, thông qua các hành vi giao đất, cho thuê đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất..., Nhà nước thực hiện việc phân chia một cách hợp lý vốn đất đai đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất của xã hội.

Thứ hai, Nhà nước quyết định mục đích sử dụng của từng loại đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được phép thay đổi mục đích sử dụng đất. Người sử dụng đất không được tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất. Nếu có nhu cầu thay đổi mục đích sử dụng đất thì phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất

Thứ ba, Nhà nước quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất nhằm đảm bảo cho việc sử dụng đất nhằm đảm bảo cho việc sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vừa có tính hợp lý, ổn định và lâu dài.

Thứ tư, thông qua việc định giá đất để Nhà nước thực hiện việc quản lý đất đai về mặt kinh tế. Giá đất là một công cụ đề Nhà nước quản lý đất đai, điều chỉnh các quan hệ đất đai thông qua việc tác động, điều tiết, xử lý lợi ích kinh tế của các bên. Giá đất được sử dụng làm căn cứ để xác định các vấn đề tài chính về đất đai: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất... Với vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước còn thực hiện việc điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong sử dụng đất.

Thứ năm, Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và có cơ chế để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ này được thực hiện trên thực tế.

Thứ sáu, Nhà nước quyết định chính sách tài chính về đất đai nhằm thể hiện vai trò đất đai là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước.

Thứ bảy, Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất nhằm điều tiết vấn đề đất đai để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, khẩn cấp, phòng chống thiên tai.

Tóm lại, chỉ có Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai mới có quyền định đoạt đất đai. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân là người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp nhưng không có quyền định đoạt đất. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền định đoạt đất của Nhà nước thì sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm của hành vi mà Nhà nước quyết định các biện pháp xử lý thích đáng phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2013.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về Cơ sở xác lập chế độ đất đai và chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

 
 
 
5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày
Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất
Tư vấn pháp luật 1-1 qua Zalo