Chế độ sở hữu toàn dân là chế độ sở hữu gồm tổng thể các quy phạm pháp luật xác định chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức thực hiện quyền sở hữu của toàn dân. Bài viết phân tích và làm rõ khái niệm về sở hữu toàn dân, cụ thể:
Chế độ sở hữu toàn dân dối với đất đai là tổng hợp các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ về sở hữu đất đai, quy định và bảo vệ quyền lợi của nhà nước với tính cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, đồng thời mở rộng và xác lập các quyền năng của người sử dụng đất.
Chế độ sở hữu toàn dân gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai. Quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể hơn về vấn đề này và Cơ sở xác lập chế độ đất đai.
Tài sản vô chủ trong lĩnh vực quản lý và sở hữu tài sản, đã luôn là một chủ đề nổi bật và gây tranh cãi trong cộng đồng pháp luật. Vậy, tài sản vô chủ có đương nhiên được xác lập quyền sở hữu toàn dân không?
Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật.
Sở hữu toàn dân là hình thức cao nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa, trong đó các tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, các phương tiện và tài sản khác thuộc về nhà nước - người đại diện chính thức của nhân dân. Vậy, chủ thể và khách thể của sở hữu toàn dân được hiểu như thế nào ? Bài viết phân tích: