1. Chủ thể của sở hữu toàn dân là gì ?

Nhà nước là đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản là những tư liệu sản xuất chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đến an ninh, quốc phòng như quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 197 Bộ lật dân sự năm 2015.

Khác với những chủ sở hữu khác như: Cá nhân, pháp nhân, Nhà nước tham gia quan hệ quyền sở hữu với tư cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu. Nhà nước là một tổ chức đại diện cho nhân dân nắm và quản lí toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị. Nhà nước, thông qua Quốc hội đề xuất và tự quy định cho mình những biện pháp, hình thức, trình tự thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của đất nước (các nghị định, thông tư...) quy định về quyền hạn của mình trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của toàn dân.

Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, thềm lục địa... mà các chủ thể khác không có quyền sở hữu. Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật. Khi tài sản được Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức... thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lí, sử dụng tài sản đó.

Để thực hiện quyền sở hữu của toàn dân, Nhà nước thành lập các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lí ở trung ương và địa phương, thành lập các doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của Nhà nước những tài sản phù hợp với yêu cầu, chức năng của đơn vị đó để thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Các đơn vị hoặc cá nhân được Nhà nước giao tài sản phải sử dụng, khai thác đúng mục đích, có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đổi với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân nhưng chưa được giao cho tổ chức hoặc cá nhân quản lí như: Đất hoang, đồi trọc, thềm lục địa xa bờ, vùng kinh tế đặc quyền... thì Chính phủ tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều tra khảo sát và lập quy hoạch tổng thể để dần đưa vào khai thác.

Ngoài ra, trong phạm vi pháp luật cho phép, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các loại tài sản được giao. Đối với các doanh nghiệp khi định đoạt tài sản là những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của Chính phủ phải được cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này không phải là chủ sở hữu đối với các loại tài sản đó mà chủ sở hữu là toàn dân được đại diện bởi Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo yêu cầu của chức năng và nhiệm vụ, Nhà nước còn thành lập các cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Nhà nước trong việc quản lí và điều hành xã hội. Khi thấy không cần thiết, Nhà nước có thể sáp nhập, chia, tách, giải thể một số các cơ quan đó. Việc thu hồi, thanh lí, chuyển giao các loại tài sản của cơ quan bị giải thể, chia tách hoặc sáp nhập do Nhà nước quy định. Đối với các doanh nghiệp của Nhà nước, nếu sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ nhiều... thì Nhà nước có thể tổ chức lại, giải thể, tuyên bố phá sản hay chuyển hình thức sở hữu của các doanh nghiệp đó.

2. Khách thể của sở hữu toàn dân

Nghiên cứu quyền sở hữu với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối thì tài sản là đối tượng của quyền sở hữu gọi là khách thể của quan hệ pháp luật về sở hữu.

Khách thể của sở hữu toàn dân rất đa dạng, phạm vi khách thể không bị hạn chế. Có những loại tài sản chỉ thuộc sở hữu toàn dân như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, các loại tài sản trong lòng đất thuộc thềm lục địa Việt Nam, sinh vật và các loại tài nguyên không phải là sinh vật dưới nước thuộc vùng biển của Việt Nam, vùng kinh tế đặc quyền ngoài biển... Đó là những tư liệu sản xuất chủ yếu quyết định đến việc phát triển kinh tế, bảo vệ nền an ninh và quốc phòng của nước ta. Những loại tài sản này gọi là khách thể đặc biệt của sở hữu toàn dân.

Trong thực tế, một số tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, rừng, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp... được Nhà nước giao cho các chủ thể khác nhau quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân thông qua hợp đồng dân sự hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức, cá nhân được giao quản lí, sử dụng các tư liệu sản xuất đó phải thực hiện trong phạm vi và trình tự do pháp luật quy định.

Những tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc sở hữu toàn dân đều có giá trị kinh tế và có vai trò quan ttọng đặc biệt ttong sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Do có tầm quan trọng như vậy nên Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên ttong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân.

2.1 Khách thể của sở hữu toàn dân là đất đai

Tất cả các loại đất đai trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện quyền sở hữu. Nhà nước giao đất cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, các nông trường, lâm trường, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xã và cá nhân để sử dụng lâu dài và ổn định. Người sử dụng đất có quyền hưởng hoa lợi, để lại thừa kể những hoa lợi ttên đất, được phép chuyển quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thể chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật (Điều 54 Hiến pháp năm 2013). Đất đai được phân thành các loại sau đây:

+ Đất nông nghiệp:

- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm gồm đất ttồng lúa, trồng cỏ.

- Đất làm muối.

- Đất nuôi trồng thuỷ sản...

Đất nông nghiệp là đất dùng để phát triển nông nghiệp như trồng trọt (trồng lúa, cây hoa mầu), chăn nuôi. Tổ chức, cá nhân sử dụng đất có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng vụ, bảo vệ cải tạo, bồi bổ đất, sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả. Khi chuyên nhượng quyền sử dụng đất được Nhà nước giao phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai.

- Đất nông nghiệp, đất trồng rừng là đất chủ yếu dùng vào phát triển sản xuất lâm nghiệp như: Trồng rừng, khai thác rừng, tu bổ và cải tạo rừng, đất rừng, làm vườn quốc gia, trồng rừng để phòng hộ đầu nguồn và cải tạo môi trường... Người sử dụng đất ttồng rừng phải có trách nhiệm bảo vệ, khai thác hợp lí, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về bảo vệ rừng.

+ Đất phi nông nghiệp:

- Đất ở nông thôn, đất ở thành thị: Là đất dùng để ở, xây dựng đô thị và các khu dân cư nông thôn. Việc sử dụng đất khu dân cư ở thành thị và ở nông thôn phải tuân theo quy định về quy hoạch đô thị và nông thôn. Trong trường hợp thật cần thiết vì lí do an ninh, quốc phòng hay vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể thu hồi quyền sử dụng đất nhưng có bồi thường theo quy định của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Diện tích giao cho từng hộ không vượt quá mức quy định của Nhà nước và phải phù hợp với quy hoạch tại địa phương đó.

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan và các loại đất phi nông nghiệp khác...

Là đất được sử dụng cho các nhu cầu chung, cho việc quản lí nhà nước, phục vụ việc phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, đất dùng cho việc thăm dò, khai thác khoáng sản, làm đồ gốm, gạch ngói và các loại vật liệu xây dựng khác. Loại đất này Nhà nước giao cho các tổ chức chuyên trách, các đơn vị quân đội, công an quản lí và sử dụng. Các tổ chức, cá nhân khi sử dụng, khai thác phải tuân thủ những quy định riêng của từng loại đất nói trên.

+ Đất chưa sử dụng: Là các loại đất hoang, đất trống, đồi trọc chưa được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân nào. Nhà nước sẽ lập quy hoạch tổng thể, tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều ưa khảo sát và lập kế hoạch đưa vào khai thác. Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đưa loại đất này vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.

Nhà nước thống nhất quản lí tất cả các loại đất đai trong phạm vi lãnh thổ, thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc cho các tổ chức, cá nhân thuê để sử dụng lâu dài nhưng phải bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm. Người sử dụng đất phải tuyệt đối chấp hành pháp luật về quản lí đất, nếu vi phạm thì tuỳ theo mức độ mà có thể bị xử lí theo pháp luật hành chính hoặc truy cứu ưách nhiệm hình sự.

2.2 Khách thể của sở hữu toàn dân là rừng

Rừng tự nhiên là tổng thể sinh thái gồm không những cây rừng mà còn cả môi trường rừng như: Thảm cỏ tự nhiên, thảm thực vật trung gian, động vật (gồm cả chim muông, thú rừng). Rừng có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, rừng còn làm trong sạch môi trường, cân bằng hệ sinh thái và có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất đai.

Đối với các loại rừng mà chủ rừng trồng trên đất được Nhà nước giao nhưng không phải bằng vốn của Nhà nước thì tất cả sản phẩm thực vật rừng thuộc quyền sở hữu của người bỏ vốn trồng rừng. Những động vật rừng quý hiếm mà pháp luật quy định phải bảo vệ, cấm săn bắt nếu không có giấy phép đều thuộc quyền sở hữu toàn dân. Các động vật thông thường thuộc quyền sở hữu của chủ rừng.

Tất cả các loại rừng, Nhà nước đều quy định các biện pháp bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy, phòng trừ sâu bệnh hại rừng, các nguyên tắc sinh học và những quy định về kiểm dịch quốc gia. Để mở rộng diện tích rừng, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển rừng.

Những năm qua do việc khai thác rừng bừa bãi đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái; tình trạng phá rừng đầu nguồn đã gây nên xói mòn, lũ lụt đột biến. Trước thực trạng ừên, để bảo vệ rừng Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 286-TTg ngày 02/5/1997 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng. Chỉ thị yêu cầu các địa phương phải thực hiện khẩn trương và nghiêm túc việc cắm mốc, xác định địa giới các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên. Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh phải chịu hách nhiệm về quản lí nhà nước đối với từng loại rừng trên địa bàn của địa phương.

Rừng được chia thành các loại sau:

- Rừng phòng hộ để bảo vệ đất, nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, rừng để chắn gió, chắn sóng biển và lấn biển.

- Rừng đặc dụng để bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, rừng quốc gia, động vật rừng, nghiên cứu khoa học, làm danh lam thắng cảnh và du lịch.

- Rừng sản xuất dùng vào việc khai thác, kinh doanh gỗ, các lâm sản rừng và động vật rừng. Những người khai thác phải bảo đảm việc khai thác rừng đủ tuổi khai thác và sau khi khai thác phải trồng lại rừng theo quy định của Nhà nước.

Các tổ chức, cá nhân (gọi là chủ rừng) khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao rừng, đất trồng rừng để sử dụng phải tuân theo quy định của luật bảo vệ và phát triển rừng, không sử dụng vào mục đích khác.

2.3 Khách thể của sở hữu toàn dân nước

Bao gồm mặt biển, sông, hồ, ngòi, rạch... Luật cải cách ruộng đất năm 1953 và một số văn bản pháp luật khác xoá bô quyền chiếm hữu tư nhân, những đặc quyền, đặc lợi về khúc sông, mặt biển. Pháp luật đã quy định: Mặt biển, hồ lớn, sông ngòi, các công trình thuỷ lợi đều thuộc sở hữu nhà nước.

Nước là nguồn tài nguyên vô tận, phục vụ việc tưới tiêu trong nông nghiệp, cung cấp nguồn năng lượng cho công nghiệp thuỷ điện. Nước biển trong vùng lãnh hải cung cấp nguyên liệu làm muối. Các tổ chức, cơ quan và cá nhân có quyền sử dụng nước nhưng không được làm ô nhiễm môi trường xung quanh. Nước dùng trong công nghiệp trước khi thải ra nơi quy định phải được xử lí và phải tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, các loài sinh vật sống trong nước (kể cả sinh vật và không sinh vật) là nguồn thuỷ sản và hải sản có giá trị, góp phần vào việc phát triển kinh tể ngoại thương, đem lại cho Nhà nước số ngoại tệ đáng kể.

2.4 Khách thể của sở hữu toàn dân hầm, mỏ (khoáng sản)

Là những loại tài nguyên trong lòng đất, dưới thềm lục địa có giá trị kinh tế phục vụ cho việc phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và công nghiệp quốc phòng.

- Hầm: Bao gồm các khoáng chất để xây dựng và cung cấp cho công nghiệp như đá vôi, đất sét, cát đen, cát vàng, muối mỏ, các khoáng chất làm nguyên liệu sản xuất phân bón.

- Mỏ: Bao gồm các loại khoáng chất như kim loại, đá quý, than đá, nhiên liệu lỏng (dầu), nhiên liệu khí...

Việc khai thác và sử dụng hầm, mỏ phải tuân theo trình tự nhất định do pháp luật quy định. Tổ chức hoặc cá nhân có hành vi cố ý vi phạm các quy định trong quản lí nhà nước về khoáng sản sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật.

2.5 Các loại vũ khí quốc phòng, an ninh

Là những tài sàn chỉ thuộc quyền sở hữu nhà nước, do Nhà nước trang bị cho các lực lượng vũ trang để chiến đấu bảo vệ tổ quốc và giữ gìn trật tự trị an. Ở nước ta, cá nhân không có quyền có vũ khí riêng.

Ngoài ra, những tài sản vắng chủ, vô chủ, những tài sản chôn giấu, bị chìm đắm trong một số trường hợp pháp luật quy định là của Nhà nước. Ví dụ: Khoản 2 Điều 229 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Tài sản được tìm thay là tài sản thuộc dì tích lịch sử - văn hoá theo quy định của Luật di sàn văn hoá thì thuộc về Nhà nước, người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật".

Các công trình vãn hoá hoặc công trình có ý nghĩa quan ttọng trong nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng như: hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, bưu điện, bưu chính viễn thông... đều thuộc sở hữu toàn dân.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự quyền sở hữu, chế độ sở hữu toàn dân cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê