1. Khái niệm về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
Chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài là sổ tiền phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu uỳ thác tư pháp.
Việc buộc các đương sự chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài có ý nghĩa bù lại một phần chi phí của Nhà nước cho hoạt động xét xử của toà án. Ngoài ra, còn có tác dụng buộc các đương sự phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không được lạm dụng việc thực hiện quyền tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án.
Chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài phải là sổ tiền cần thiết và hợp lí phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu uỷ thác tư pháp. Toà án không được thu trả chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài quá số tiền cần thiết và họp lí phải chi ưả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp.
Trước khi toà án uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, đương sự phải tạm nộp một số tiền để chi trả cho việc uỷ thác tư pháp khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự. số tiền này được gọi là tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Người yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
Đối với số tiền tạm ứng chi phí chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài sẽ được toà án quyết định xử lí khi giải quyết vụ việc dân sự theo các nguyên tắc sau:
- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp không phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp thì người phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp theo quyết định của toà án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp;
- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí uỷ thác tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí uỷ thác tư pháp thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của toà án.
2. Cách tính chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự, toà án quyết định nghĩa vụ nộp tiền chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài theo nguyên tắc người có lồi trong việc đưa ra yêu cầu uỳ thác tư pháp phải nộp tiền chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được xác định như sau:
- Đương sự phải phịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được toà án chấp nhận;
- Trường họp yêu cầu toà án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài tương ứng với tỉ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
- Trong vụ án li hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; trường họp cả hai thuận tình li hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;
- Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án ở toà án cấp sơ thẩm do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) và đình chỉ giải quyết vụ án ở toà án cấp phúc thẩm khi bị đơn đồng ý chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn (đỉểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) thì nguyên đơn phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;
- Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị (đỉểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015), người kháng cáo được toà án triệu tập họp lệ lần thứ hai mà vắng mặt (khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;
- Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì người yêu cầu phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
Hiện nay, định nghĩa chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, việc xử lí tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, việc chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại các
điều từ Điều 151 đến Điều 154 và Điều 169 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc thu nộp chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được thực hiện theo các quy định này và các quy định của văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê