1.Nguyên tắc và điều kiện thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế tại Việt Nam
Các nguyên tắc tương trợ tư pháp theo pháp luật Việt Nam:
– Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
– Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
Cách thức thực hiện ủy thác tư pháp: Khi thực hiện ủy thác tư pháp, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình. Theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, cơ quan được yêu cầu có thể áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng của nước ký kết yêu cầu, nếu những quy phạm pháp luật đó không mâu thuẫn.
Nếu không tìm thấy người cần tìm theo địa chỉ đã nêu trong văn bản ủy thác thì cơ quan được yêu cầu áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để xác minh địa chỉ của người đó.
Theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, cơ quan được yêu cầu thông báo ngay cho cơ quan yêu cầu về thời gian và địa điểm thực hiện ủy thác.
Để thực hiện ủy thác, cơ quan được yêu cầu lập các giấy tờ tương ứng nói rõ thời gian, địa điểm thực hiện và gửi các giấy tờ đó cho cơ quan yêu cầu.
Nếu cơ quan được yêu cầu không có thẩm quyền thực hiện ủy thác thì cơ quan này chuyển ủy thác đó cho cơ quan có thẩm quyền theo thể thức đã quy định đối với các ủy thác tư pháp quốc tế.
Trong trường hợp chưa có hiệp định liên quan thì các ủy thác tư pháp quốc tế sẽ được thực hiện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Toà án Việt Nam ủy thác tư pháp cho tòa án nước ngoài hoặc thực hiện ủy thác tư pháp của tòa án nước ngoài về việc tiến hành một số hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
Tòa án Việt Nam không chấp nhận việt ủy thác tư pháp của tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau: Việc thực hiện ủy thác tư pháp không thuộc thẩm quyền hoặc xâm phạm đến chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện ủy thác tư pháp phải tuân theo thủ tục sau:
Việc tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho tòa án nước ngoài hoặc tòa án nước ngoài ủy thác tư pháp cho tòa án Việt Nam phải được lập thành văn bản và gửi đến cơ quan có thẩm quyền Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt nam kí kết hoặc gia nhập hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cơ quan có thẩm quyền của VIệt Nam nhận được văn bản ủy thác tư pháp phải chuyển ngay cho Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài nhận văn bản ủy thác của Tòa án Việt nam.
2. Vấn đề uỷ thác tư pháp ở Việt Nam
Nhờ thực hiện chính sách làm bạn với tất cả các nưốc, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực và chủ động hội nhập về kinh tế với khu vực và thế giới, giao lưu dân sự giữa Việt Nam và các nưôc ngày càng phát triển, các vụ việc, án kiện dân sự có yếu tố nước .ngoài ngày càng tăng, và do đó các trường hợp Toà án nước ngoài và Toà án Việt Nam uỷ thác cho nhau thực hiện những hành vi tố tụng riêng lẻ ngày càng nhiều.
Theo pháp luật hiện hành, Toà án Việt Nam có quyền uỷ thác cho Toà án nước ngoài, đồng thời được phép nhận thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài.
Nguyên tắc uỷ thác tư pháp giữa Toà án Việt Nam và Toà án nưốc ngoài (Điều 85 của Pháp lệnh Thử tục giải quyết* các vụ án dân sự năm 1989) được quy định như sau:
-Việc uỷ thác tư pháp giữa Toà án Việt Nam với Toà án nước ngoài được thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
-Toà án Việt Nam thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài nếu việc được yêu cầu không trái với chủ quyền và không xầm phạm đến an ninh quốc gia của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, việc uỷ thác tư pháp giữa Toà án Việt Nam với Toà án nưốc ngoài được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 không quy định thể thức giao, nhận uỷ thác tư pháp, kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp cũng như pháp luật áp dụng làm cơ sở thực hiện uỷ thác tư pháp, V.V.. Song, trên thực tế, việc giao nhận uỷ thác tư pháp và kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp giữa Toà án Việt Nam và Toà án nước ngoài được thực hiện bằng con đường ngoại giao. Khi thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài, Toà án Việt Nam tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, trừ trưồng hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Thực tiễn này của Việt Nam phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Việt Nam cũng không đòi trả công trong việc thực hiện uỷ thác tư pháp của Toà án nước ngoài. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp vối thông lệ quốc tế.
Nhìn chung, để bảo đảm cho việc Toà án nước ta uỷ thác cho Toà án nước ngoài và thực hiện uỷ thác Tư pháp của Toà án hước ngoài một cách chính xác, có hiệu quả, đúng pháp luật, Nhà nước ta nên có các quy định thật đầy đủ về vấn đề này. Đây chính là điều cần đạt được trong quá trình hoàn thiện pháp luật nước ta về tố tụng dân sự.
3. Vấn đề uỷ thác tư pháp trong các điều ước quốc tế
Vấn đề uỷ thác tư pháp là một trong những vấn đề quan trọng của tô' tụng dân sự quốc tế. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả các tranh chấp dân sự có yếu tô nước ngoài, thúc đẩy giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học — công nghệ và ỵăn hoá giữa các quốc gia. Vì vậy, nó được để cập trong nhiều điều ước quốc tế, đặc biệt các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nưốc.
Theo các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam dã ký vổi các nước, Toà án các bên ký kết hiệp định được phép uỷ thác cho nhau và thực hiện uỷ thác tư pháp của nhau. Đây là một phương thức thực hiện tương trợ tư pháp giữa các bên ký kết hiệp định trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự.
Việc giao, nhận uỷ thác tư pháp và kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp được thực hiện thông qua Bộ Tư pháp (nếu là vấn đề hình sự thì thông qua Viện kiểm sát tối cao). Việc thực hiện uỷ thác tư pháp có thể bị từ chối nếu việc đó trái với chủ quýền, an ninh quốc gia của nước nơi uỷ thác tư pháp được yêu cầu thực hiện.
Tất cả các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước đều quy định rằng, uỷ thác phải được lập thành văn bản và ghi rõ tên cơ quan yêu cầu, tên cơ quan được yêu cầu, tên công việc uỷ thác, nội dung yêu cầu, những dữ kiện cần thiết cho việc thực hiện uỷ thác; họ và tên các đương sự, người làm chứng và những người liên quan, nơi thường trú, tạm trú, quốc tịch, hộ tịch, chuyên môn, nghề nghiệp của họ; họ tên và địa chỉ người đại diện của các đương sự, cơ quan yêu cầu phải có người đại diện có thẩm quyền ký tên, đóng dấu.
Khi thực hiện uỷ thác, bên được yêu cầu tuân theo pháp luật của nước mình; nếu bên uỷ thác yêu cầu tuân theo pháp luật của bên uỷ thác và không trái với pháp luật của nước mình thì áp dụng pháp luật của nước bên uỷ thác; nếu không thực hiện được uỷ thác thì gửi trả lại giấy tờ và thông báo lý do; nếu cơ quan được yêu cầu không có thẩm quyền thực hiện uỷ thác tư pháp thì cơ quan này có trách nhiệm chuyển uỷ thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền theo thể thức đã quy định.
Mỗi bên ký kết hiệp định có thể tống đạt giấy tờ cho công dân mình thông qua cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nưốc mình trên lãnh thổ nước kia, nhưng không được áp dụng các biện pháp cưỡng 'chế.
Bên được yêu cầu thực hiện uỷ thác tư pháp chịu mọi phí tổn phát sinh trên lãnh thổ nước mình, nhưng cần thông báo cho bên kia biết, nếu bên uỷ thác thu những chi phí này từ những người có nghĩa vụ phải trả thì nước này được hưởng.
Các thứ tiếng được dùng trong việc lập văn bản uỷ thác và các loại giấy tờ có liên quan do từng hiệp định quy định cụ thể.
Các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước Đông Âu, giữa Nga vổi các nước Đông Âu đều có những quy định tương tự như các hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam.
Một vấn đề không được quy định trong pháp luật các nước cũng như trong các điều ưốc quốc tế là: nếu để giải quyết một tranh chấp, toà án một nưốc uỷ thác cho toà án nước khác thực hiện một số hành vi tố tụng riêng lẻ và bên được yêu cầu thực hiện uỷ thác biết chắc rằng bản án do toà án bên kia sắp tuyên sẽ không được công nhận ở nước mình thì có thực hiện uỷ thác tư pháp đó hay không? Nhìn chung bên được yêu cầu vẫn thực hiện uỷ thác tư pháp, vì việc thực hiện uỷ thác tư pháp không phụ thuộc . vào vấn đề công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài.
4.Hình thức ủy thác
Các ủy tác tư pháp được thực hiện thông qua các hình thức sau đây :
- Khi thực hiện ủy thác tư pháp cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình. Theo yêu cầu có thể áp dụng pháp luật nước kia nếu những quy phạm pháp luật đó không mâu thuẫn với pháp luật của nước được yêu cầu.
- Nếu không tìm thấy người cần tìm theo địa chỉ trong văn bản ủy thác thì cơ quan được yêu cầu áp dụng tât cả các biện pháp cần thiết để xác minh địa chỉ của người đó.
-Theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, Cơ quan được yêu cầu thông báo ngay cho cơ quan yêu cầu về thời gian, địa điểm thực hiện ủy thác.
- Để thực hiện ủy thác, cơ quan được yêu cầu lập các giấy tờ tương ứng nói rõ thời gian, địa ddierm thực hiện và gủi lại các giấy tờ đó cho cơ quan yêu cầu.
- Để thực hiện ủy thác, cơ quan được yêu cầu lập các giấy tờ tương ứng nói rõ thời gian, địa diểm thực hiện và gửi lại các giấy tờ đó cho cơ quan yêu cầu.
- Nếu cơ quan được yêu cầu không có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp thì cơ quan này chuyển ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền.
5.Thực hiện ủy thác tư pháp tại Việt Nam
- Cơ quan Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài về việc tiến hành một số hoatj động tố tụng dân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
- Cơ quan Tòa án Việt Nma không chấp nhận thực hiện việc ủy thác củaTòa án nước ngoài trong cá trường hợp sau đây:
+ Việc thực hiện ủy thác tu pháp xâm phạm đến chủ quyền của Việ Nma hoặc đe dọa đến an ninh của Việt Nma thì Tòa án Việt Nma không chấp nhận thực hiện việc ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài.
+ Việc thực hiện ủy thác tư pháp không thuộc thẩm quyền của Toàn án Việt Nam không chấp nhận thực hiệc việc ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)