1. Chung sống với nhau như vợ chồng thì có được thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi sau xin được giải đáp:Gia đình em có 1 mảnh đất đứng tên sổ hồng là ba và mẹ nhưng hai người không có đăng ký kết hôn. Bây giờ ba em mất em muốn làm giấy chuyển quyền sở hữu sang cho mẹ em. Ba em lại có 2 vợ mà cả 2 đều không có đăng ký kết hôn, với người vợ lớn có 8 người con, với mẹ em thì có 2 người. Khi ba và mẹ em ở với nhau tài sản do mẹ em tạo dựng nhưng vẫn đứng tên 2 người.
Vậy bây giờ em muốn chuyển quyền thừa kế sang mẹ làm như thế nào ?
Người gửi: M.N.T

Tư vấn về phân chia di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì Gia đình bạn có 1 mảnh đất đứng tên sổ hồng là ba và mẹ nhưng hai người không có đăng ký kết hôn. Ba bạn lại có 2 vợ mà cả 2 đều không có đăng ký kết hôn, với người vợ lớn có 8 người con, với mẹ bạn thì có 2 người. Khi ba và mẹ bạn ở với nhau tài sản do mẹ bạn tạo dựng nhưng vẫn đứng tên 2 người.

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 thì có quy định: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này. Như vậy bố bạn có 2 người vợ nhưng cả hai đều không đăng ký kết hôn. Vì vậy quan hệ hôn nhân của họ không được pháp luật thừa nhận. Như vậy cả hai bà " vợ" của bố bạn đều không được hưởng di sản thừa kế của bố bạn. Nếu tài sản của riêng ai thì vẫn là của người đó. Nếu là tài sản chung thì được xác định là tài sản sở hữu chung theo phần và được phân chia theo phần đóng góp của mỗi người trong khối tài sản chung.

Vì bố bạn mất không để lại di chúc nên phần tài sản của bố bạn được chia theo pháp luật. Cụ thể như sau:

Việc phân chia di sản được thực hiện theo thứ tự hàng thừa kế quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005:

" Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy tài sản của bố bạn sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất.

Căn cứ theo quy định trên thì các con không phân biệt trai hay gái, đã kết hôn hay chưa kết hôn, nếu còn sống tại thời điểm người để lại di sản chết thì đều có quyền hưởng thừa kế.

Vì vậy trong trường hợp này anh em bạn phải làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại Văn phòng công chứng và văn phòng công chứng sẽ tiến hành thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của bố bạn. Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản này, bạn có thể tặng cho toàn bộ phần quyền hưởng di sản của mình cho mẹ.

Do đó bạn có thể tặng cho toàn bộ phần quyền hưởng di sản thừa kế của mình cho mẹ theo quy định của pháp luật.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi: 1900.6162.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tư vấn phân chia di sản thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi xin được nhờ giải đáp về việc phân chia di sản thừa kế như sau: Gia đình ông cố tôi gồm 5 người con sau đây tôi xin được gọi là: Một, Hai, Ba, Bốn, Năm. Trước năm 1975, ông Bốn đi kháng chiến và hi sinh năm 1968 và được ông cố tôi chôn tại đất nhà mình cho đến nay. Trong đó, ông Bốn có người vợ là bà Bình và hai con Xuân và Thu.

Sau giải phóng bà Bình lấy chồng khác cùng hai con nhỏ là Xuân và Thu đi nơi khác sinh sống. Năm 1978, ông cố tôi mất và để lại di sản và không có di chúc. Các người con Một, Hai, Ba, Năm đều được chia tài sản của ông cố tôi nhưng ông Bốn không được hưởng thừa kế nào từ ông cố tôi. Khi đó, 2 người con Xuân và Thu còn nhỏ tuổi (dưới 14 tuổi) không biết gì cả. Tháng 3/2015, ông Năm đòi con ông Bốn là bà Thu phải trả đất phần mộ của ông Bốn nằm.

Xin hỏi các vị luật sư tư vấn:

1. Nếu bà Thu muốn lấy lại phần tài sản mà cha mình được hưởng từ ông cố có được không?

2. Nếu được thì bà Thu cần làm những gì?

Xin luật sư tư vấn giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn./.

Người gửi: V.T.O Kiều

Trả lời:

Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định về người thừa kế như sau:

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Năm 1978, ông cố mất để lại di sản và không có di chúc, trong khi đó, năm 1968, ông Bốn mất khi đi kháng chiến. Bởi vậy, vào thời điểm ông cố mất tức là thời điểm mở thừa kế thì những người thừa kế được xác định gồm có: Một, Hai, Ba, Năm. Bởi vậy, bà Thu là con ông Bốn sẽ không nằm trong diện được hưởng thừa kế.

Vì ông cố mất không để lại di chúc nên di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 675.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Chia di sản thừa kế khi gia đình bất hòa ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Hồi trước ông ngoại mình mất bên trung quốc (không làm được giấy chứng tử)có để lại căn nhà cho cậu dì của mình ở chung. Mà căn nhà đó chủ hộ là cậu mình (anh hai trong nhà- đã có vợ con) nhưng ông vừa mới mất cũng được 1 tháng. Do gia đình bất hòa từ lâu nếu thừa kế tài sản thì sẽ chia cho ai?
(Gia đình có 8 anh chị em, 1 người đã mất hồi trẻ, cậu mình cũng mới mất, 2 người em ở nước ngoài).
Xin cám ơn luật sư!

Trả lời:

Thứ nhất, về chủ sở hữu tài sản:

Theo thông tin bạn cung cấp thì ông bạn khi qua đời đã để lại căn nhà cho cậu-dì bạn và cậu bạn đã là chủ sở hữu ngôi nhà này. Vì vậy, tài sản được chia thừa kế là tài sản của cậu bạn.

Thứ hai, Về việc thanh toán, phân chia di sản thừa kế:

Cậu bạn mất không để lại di chúc vì vậy, di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật. Việc thanh toán di sản thừa kế được quy định tại - Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Về những người được hưởng thừa kế theo pháp luật:

" Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau."

Về việc phân chia di sản:

" Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Tư vấn về phân chia di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, xin tư vấn và cung cấp quy định pháp luật hiện nay về chia tài sản thừa kế hợp pháp, đúng luật ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

"Điều 653. Nội dung của di chúc bằng văn bản

1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc."

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi sinh thời, mẹ tôi sống với em trai tôi, còn tôi thì luôn đi công tác xa. Sau khi ba mất, vì mất đột ngột nên không kip trăng chối vấn đề di chúc tài sản cho anh em tôi. Khi tôi dự định chia đôi số tài sản đất đai của ba thì em trai tôi mới đưa ra một số giấy tờ viết vào các thời điểm khác nhau trước khi mẹ mất, có nội dung mẹ để lại toàn bộ tài sản đất đai cho em trai tôi. Tất cả đều có chữ ký và dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương là phó chủ tịch xã nhưng không có người làm chứng. Mẹ tôi lại không biết chữ nên số giấy tờ trên đều do em trai tôi viết và mẹ điểm chỉ vào. Vậy tôi xin hỏi luật sư, em tôi làm vậy thì có đúng không, có được hưởng toàn bộ tài sản do mẹ tôi để lại không?

Di chúc bằng văn bản của mẹ bạn không có người làm chứng thì phải do tự tay mẹ bạn viết và ký vào di chúc, trường hợp mẹ bạn không biét chữ thì phải lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

"Điều 656. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này."

=> Vậy trường hợp này di chúc không có hiệu lực pháp luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi có chia sổ đỏ cho tôi 50m vuông đất nhưng vẫn giữ sổ đỏ chưa đưa cho tôi nay mẹ tôi muốn làm thêm một di chúc tôi không được bán mảnh đất đó đi chỉ được ở thôi, mẹ tôi phải làm di chúc như thế nào?

=> Mảnh đất này nếu mẹ bạn để cho bạn thừa kế quyền sử dụng thì bạn có quyền sử dụng với mảnh đất này nên việc ở hay chuyển nhượng là quyền của bạn. Việc bạn ở chỉ là tự nguyện chứ pháp luật không có quy định bắt buộc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẫu một di chúc chung của cả hai vợ chồng do một trong hai người viết như thế nào là hợp pháp?

=> Bạn chỉ cần làm di chúc với đầy đủ nội dung và hình thức bằng văn bản theo luật quy định. Một người viết nhưng phải có hai người kí xác nhận.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi vừa mất đầu tháng 7/2016, lúc còn sống mẹ tôi có một căn nhà trước khi lập gia đình đứng tên mẹ tôi và trong thời gian có gia đình có mở một khách sạn và toàn bộ tài sản xe cộ đều đứng tên mẹ tôi để gia đính dễ dàng thao tác giấy tờ (lúc mẹ còn sống). Nhưng sau khi mẹ tôi mất không có để lại di chúc, vậy tôi muốn mở di sản thừa kế thì như thế nào và quyền lợi các người thừa kế ra sao? Hiện tại sau khi mẹ tôi mất, ông bà ngoại vẫn còn, mẹ tôi có chung 2 người con với ba tôi. Ba tôi có 1 người con riêng trước khi lập gia đình và ông nội tôi mất 4 năm chỉ còn bà nội

=> Vì mẹ bạn không để lại di chúc nên di sản thừa kế lúc này sẽ được chia đều cho ông bà ngoại, 2 người chung của mẹ bạn với ba bạn, ba bạn. Ba bạn đã mất rồi và có 3 người con là thừa kế thế vị nên 3 người con được hưởng phần di sản mà bố được hưởng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bà ngoại mình có 3 người con gái, sau khi bà mất bà có để lại di chúc để chia tài sản là mảnh đất thành 3 phần cho 3 người con. Hiện tại, mảnh đất của cô thứ 2 đã được bán cho người khác. Còn lại 2 mảnh đất: 1 mảnh của mẹ mình và 1 mảnh cô út Mình đang muốn xin cấp sổ đỏ của mảnh đất mẹ mình thì phải làm nhưng thủ tục gì?

=> Mẹ bạn có thể làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn như là tặng, cho quyền sử dụng đất rồi bạn làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mảnh đất này.

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

"Điều 70. Trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định để làm thủ tục đăng ký.

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.
Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;
b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);
c) Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai thì gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định tại Khoản 2 Điều này;
b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);
c) Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;
d) Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký;
đ) Trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đó. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký đất đai;
e) Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có);
g) Trường hợp người sử dụng đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính, trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật; chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cập nhật bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp, trường hợp hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại cấp xã thì gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trao cho người được cấp.

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc sau:
a) Kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Trường hợp thuê đất thì trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ký quyết định cho thuê đất; ký hợp đồng thuê đất và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau khi người sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
b) Chuyển hồ sơ đã giải quyết cho Văn phòng đăng ký đất đai.

5. Trường hợp người sử dụng đất đã đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật mà nay có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận; Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc quy định tại Điểm g Khoản 3 và Khoản 4 Điều này."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tư vấn về việc chia di sản thừa kế ?

Chào luật sư! Tôi có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Ông A(chồng) và Bà B (vợ) kết hôn trong đó có 1 người con chung là C (25 tuổi). ông A có 1 người con riêng là D(40 tuổi). Bà B có 3 người con riêng lần lượt là E(35 tuổi), G(33 tuổi), H(30 tuổi).

Tuy nhiên, do bà B đã ly hôn với người chồng trước nên toà án chỉ quyết định bà nuôi dưỡng 1 người con nhỏ nhất là H, 2 người còn lại là E và G toà quyết định người chồng cũ nuôi. Nay ông A muốn làm di chúc giao lại ½ tài sản chung của vợ chồng có được trong hôn nhân là 600.000.000VNĐ cho người con chung là C theo di chúc. Vậy tôi có những thắc mắc sau xin được luật sư giải đáp:

1. Nếu di chúc hợp pháp, A có nhận được hoàn toàn số tài sản 600.000.000VNĐ(1/2 tài sản chung của vợ chồng) không? Theo điều 669 BLDS thì Bà B là người thừa kế không theo di chúc, vậy lúc này cách chia theo luật sẽ như thế nào? Số tiền ông A để lại di chúc cho C có bị ảnh hưởng gì không?

2. Nếu bà A chết mà không để lại di chúc, lúc này chia theo luật sẽ như thế nào? hai người con riêng được toà quyết định cho chồng cũ nuôi dưỡng có được chia không?

Xin cảm ơn!

Người gửi: P.B

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

* Chia di sản thừa kế khi ông A để lại di chúc và di chúc hợp pháp: Vấn đề C có hoàn toàn nhận được số tiền 600.000.000 đồng hay không phụ thuộc vào bà B có thuộc đối tượng quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự 2005 quy định về những người không được quyền hưởng di sản hay không.

Nếu bà B thuộc đối tượng không được hưởng di sản thì C được nhận hoàn toàn số tiền mà A để lại theo di chúc. Còn nếu B không thuộc đối tượng trên thì mặc dù trong di chúc ông A không nói là để lại tài sản cho bà B nhưng theo quy định tại điều 669 BLDS thì bà B vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Vì vậy mà C không được nguyên số tiền 600.000.000.đồng nữa.

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

" Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động"

* Chia di sản thừa kế nếu khi chết B không để lại di chúc

Theo quy định tại điều 675 BLDS thì việc thừa kế theo pháp luật sẽ được thực hiện khi người có di sản thùa kế không để lại di chúc. Việc thừa kế theo pháp luật sẽ được chia theo hàng thừa kế. Theo đó thứ tự hàng thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676 BLDS. Trong đó hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chòng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Như vậy, theo quy định trên thì nếu B không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo thông tin của bạn thì những người được hưởng thùa kế bao gồm: C là con chung của A và B; E, G, H là con riêng của B với chồng trước. Việc hưởng di sản thừa kế của E và G không phụ thuộc vào việc sau khi bố mẹ ly hôn E và G ở với ai mà chỉ cần là con đẻ của người để lại di sản thừa kế là có quyền được hưởng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?