Trả lời:

1. Chuẩn bị khám xét

1.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tình hình khác có liên quan đến quyết định khám xét

Hoạt động khám xét chỉ được tiến hành khi có căn cứ được quy định tại Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, trước khi quyết định khám xét, điều tra viên cần nghiên cứu kỹ những tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập bằng các hoạt động điều tra và những tài liệu trinh sát để xác định căn cứ khám xét. Trong trường hợp cần thiết, có thể phải tiến hành các biện pháp điều tra khác như hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, nhận dạng... để thu thập bổ sung hoặc kiểm tra những tài liệu làm căn cử khám xét.

Ngoài ra, cần nghiên cứu kỹ các tình hình khác liên quan đến quyết định khám xét như nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, các chính sách khác có hên quan đến đối tượng khám xét, tình hình hoạt động của bọn tội phạm trên địa bàn, ý thức chấp hành pháp luật và nguyện vọng của quần chúng nhân dân nơi tiến hành khám xét ...

1.2 Nghiên cứu đối tượng khám xét

Theo quy định của pháp luật, đối tượng khám xét bao gồm: ngườỉ; chỗ ở, địa điểm; thư túi, điện túi, bưu kiện, bưu phẩm. Việc nghiên cứu kỹ các đặc điểm của đối tượng khám xét tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra trong việc xác định phương pháp khám xét, dự kiến thành phần lực lượng cần huy động, các phương tiện cần thiết, những tình huống phức tạp có thể xảy ra khi khám xét và các biện pháp giải quyết phù hợp ... Cụ thể:

- Khi cần khám xét người, phải xác định được đặc điểm nhận dạng của đối tượng, nắm vững đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt, đi lại, mối quan hệ gia đình, xã hội... của đối tượng.

- Khi cần khám xét chỗ ở, địa điểm, chỗ làm việc phải xác định được địa chỉ chính xác của ngôi nhà, căn phòng hay địa diem cần khám xét; đặc điểm cấu trúc của nó, vật liệu đã được sử dụng để xây dựng chúng; đường đến và ra khỏi nơi đó; số lượng và đặc điểm của các cửa ra vào và cửa sổ, đặc dỉểm bên trong của nó; số lượng và đặc điểm nhân thân của những người sống, làm việc trong đó; chế độ sinh hoạt, mối quan hệ của họ với nhau ...

Những tài liệu trên có thể thu thập được qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án; bản đồ địa lý, sơ đồ kiến trúc của ngôi nhà, căn phòng; thông tin do quần chứng nhân dân, công an cơ sở cung cấp; kết quả của quá trình xuống thực địa khảo sát hay sự quan sát trực tiếp của điều tra viên...

>> Xem thêm:  Hoạt động nhận thức, vai trò của nhận thức và thiết kế trong giai đoạn điều tra ?

1.3 Lập kế hoạch khám xét

Căn cứ vào tình hình tài liệu đã thu thập được, điều tra viên cần lập kế hoạch chi tiết cho cuộc khám xét. Trong bản kế hoạch khám xét phải làm rõ một số nội dung sau:

- Xác định mục đích, yêu cầu cuộc khám xét.

Phải làm rõ mục đích, yêu cầu cụ thể mà cuộc khám xét cần đạt được; đặc điểm riêng của đối tượng cần phát hiện, thu giữ, khả năng thay đổi hình dáng bên ngoài của các đối tượng đó.

- Xác định thời gian tiến hành khám xét.

Thời gian tiến hành khám xét được xác định dựa trên cơ sở tài liệu dã được thu thập về đối tượng cần khám xét, quy luật sinh hoạt của đối tượng và thân nhân của họ... Thời gian khám xểt phải là thời điểm cố khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất hiện ở điạ điểm khám xét cũng như tiến hành các hoạt động tìm tòi, lục soát của lực lượng khám xét. Khi trong một vụ án cần phải khám xét nhiều nơi của một hay nhiều đối tượng thì thời gian tiến hành các cuộc khám xét phải bảo đảm tữih đồng thời, không để cho các đối tượng có điều kiện thông báo cho nhau, cất giấu, tiêu hủy những đồ vật, tài liệu có quan đến vụ án hoặc chạy trốn. Ngoài ra, cần chú ý:

"Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản" (khoản 1 Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

- Dự kiến thành phần lực lượng tiến hành và tham gia khám xét

Những người tiến hành khám xét bao gồm: Người chủ trì cuộc khám xét, người trực tiếp khám xét, kỹ thuật viên phụ trách việc chụp ảnh, quay video, người bảo vệ cuộc khám xét. Tùy trường hợp cụ thể mà xác định số lượng người tiến hành khám xét cho phù hợp.

Thành phần những người tham gia hoạt động khám xét được quy định ở các điều 193,194,195 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Dự kiến những phương tiện cần thiết cho cuộc khám xét.

Thông thường, để hoạt động khám xét được tiến hành thuận lợi, cần chuẩn bị những loại phương tiện cụ thể sau: Phương tiện chiếu sáng; dụng cụ cạy phá, đo đạc; những phương tiện, vật liệu để thu thập, bảo quản dấu vết, đồ vật, tài liệu thu được trong quá trình khám xét; các phương tiện để tìm kiếm; các phương tiện để ghi nhận diễn biến và kết quả khám xét; những phương tiện thông tin, liên lạc, đi lại và các vũ khí cần thiết.

>> Xem thêm:  Hối lộ là gì? Khái niệm hối lộ được hiểu như thế nào ?

- Dự kiến quá trình tiến hành khám xét.

Trong bản kế hoạch khám xét cần dự kiến chi tiết quá trình tiến hành một cuộc khám xét như: thời gian xuất phát của các lực lượng được huy động, thời điểm cũng như cách thức tiếp cận đối tượng khám xét, trình tự khám xét và những phương pháp khám xét cơ bản, việc thông tin chỉ đạo, các phương án xử lý những tình huống phức tạp nảy sinh trong quá trình khám xét...

- Dự kiến những tình huống phức tạp có thể xảy ra và các biện pháp giải quyết.

Cần căn cứ vào những tài liệu đã thu thập được về vụ án, về đối tượng và tình hình thực tế tại nơi tiến hành khám xét để dự kiến các tình huống phức tạp xảy ra và các biện pháp giải quyết phù hợp.

Kết quả khám xét phụ thuộc nhiều vào công tác chuẩn bị. Việc chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động khám xét đạt kết quả cao. Trong trường hợp ngược lại, sẽ khó tránh khỏi lúng túng trong chỉ đạo và tiến hành khám xét hoặc vi phạm pháp luật. Saụ khi lập kế hoạch khám xét, điều tra viên chủ trì cuộc khám xét phải báo cáo cho lãnh đạo phê duyệt. Hoạt động khám xét được tiến hành theo kế hoạch đã vạch ra và đồng thời cần căn cứ vào diễn biến thực tế của cuộc khám xét để có những điều chỉnh cho phù hợp.

2. Tiến hành khám xét

Trước khi xuất phát, người chủ trì cần phổ biến và giải thích kế hoạch khám xét cho các thành viên trong tổ lần cuối, phân công nhiệm vụ cho từng người và kiểm tra việc chuẩn bị cụ thể của họ.

Việc tiếp cận đối tượng khám xét của các lực lượng phải nhanh chóng, phối hợp nhịp nhàng, đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, theo đúng kế hoạch đã vạch ra.

Khi đến ngôi nhà, căn phòng hay địa điểm cần khám xét, lực lượng tiến hành khám xét phải nhanh chóng bước vào khu vực đó và triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn cuộc khám xét, tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết. Nếu gặp sự chống cự, cản ưở thì phải khắc phục ngay. Trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ ttốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn hay khi họ đang ở trong nhà mà không chịu mở cửa thì lực lượng tiến hành khám xét tự mở cửa hoặc phá cửa để đột nhập vào ngôi nhà, căn phòng đó để tiến hành khám xét.

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

Sau khi đột nhập vào nơi cần khám xét, điều tra viên chủ trì cuộc khám xét cần kiểm tra lại, xác định chính xác đối tượng cần khám xét để fránh nhầm lẫn hoặc trùng hợp ngẫu nhiên. Tiếp đó, phải giới thiệu thành phần lực lượng khám xét (người tiến hành và tham gia khám xét). Sau đó, đọc lệnh khám xét. Đọc xong phải đưa cho đương sự xem lệnh khám đó, giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Trước khi bắt đầu, người tiến hành khám xét phải ỵêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì-tiến hành khám xét theo kế hoạch đã vạch ra. Trong trường hợp có căn cứ nhận định đối tượng chưa đưa ra hết những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án thì phải tiến hành khám xét bình thường.

3. Kết thúc khám xét

Khi kết thúc khám xét, trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản. Biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm là một vãn bản tố tụng, phản ánh toàn bộ diễn biến và kết quả của cuộc khám xét, được lập theo đúng quy định tại các Điều 95, 148 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong biên bản khám xét phải ghi rõ địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm tiến hành khám xét; thời gian bắt đầu và kết thúc cuộc khám xét; những đồ vật, tài liệu... đã phát hiện và thu giữ, địa điểm và thủ đoạn cất giấu chúng; những tình tiết phức tạp xảy ra trong quá trình khám xét, thái độ của đương sự và những người có mặt tại khu vực khám xét, những yêu cầu và đề nghị của đương sự... Không được ghi nhận xét chủ quan của điều tra viên vào biên bản. Đối với những đồ vật, tài liệu thu làm mẫu so sánh cũng cần mô tả chính xác đặc điểm của nó vào biên bản, đề phòng trường hợp đương sự phủ nhận sự liên quan của mình đối với các đồ vật, tài liệu đó. Biên bản khám xét phải được lập tại nơi tiến hành việc khám xét và phải được đọc lại cho mọi người tham gia việc khám xét, người bị khám xét, chủ nhà, người chứng kiến nghe, cùng ký tên xác nhận và phải giao cho người bị khám xét một bản.

Trong trường hợp phải thu giữ nhiều vật chứng và tài liệu có liên quan đến vụ án thì có thể lập bản thống kê kèm theo. Việc lập, thông qua, ký xác nhận bản thống kê phải theo đúng quy định của pháp luật.

Ngoài việc lập biên bản khám xét, sau khi khám xét xong, cần tự mình hoặc yêu cầu đối tượng và thân nhân của họ sắp xếp gọn gàng lại đồ đạc trong khu vực khám xét. Những đồ vật, tài liệu thu giữ phải được bảo quản phù hợp để đảm bảo an toàn cho việc vận chuyển chúng về cơ quan điều tra. Những đồ vật cần niêm phong thì phải niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra