1. Một số chính sách an sinh xã hội với người cao tuổi

Khoản 3 điều 37 Hiến pháp 2013 quy định: “Người cao tuổi được nhà nước, gia đình và xã hội chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tô quốc ”

Chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi bao gồm:

- Chính sách bảo hiểm xã hội đối với người cao tuổi tham gia lao động và đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội

- Chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

Người cao tuổi được ưu tiên khám bênh, chữa bệnh, cụ thể như sau:

+ Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng;

+ Bố trí giường nằm phù họp khi điều trị nội trú.

Các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm sau đây:

+ Tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là người cao tuổi;

+ Phục hồi sức khoẻ cho người bệnh là người cao tuổi sau các đợt điều trị cấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình;

+ Kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại, hướng dẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh là người cao tuổi.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho người cao tuổi.

Chăm sóc sức khỏe ban đầu tai nơi cư trú:

Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm: Triển khai các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe; hướng dẫn người cao tuổi kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự chăm sóc sức khoẻ; Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khoẻ người cao tuổi; Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi; Phối họp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho người cao tuổi.

Trạm y tế xã, phường, thị trấn cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với người cao tuổi cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ việc đưa người bệnh quy định tại khoản này tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo đề nghị của trạm y tế xã, phường, thị trấn.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi tại nơi cư trú.

- Hỗ trợ về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, sử dụng công trình công cộng và tham gia giao thông công cộng:

Người cao tuổi khi tham quan các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, danh lam thắng cảnh; tập luyện thể dục, thể thao tại các cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì được giảm giá dịch vụ (ít nhất là 20%)

Người cao tuổi khi tham gia giao thông được hỗ trợ theo quy định tại Thông tư số 71/2011/TT-BGTVT ngày 30/12/2011 của Bộ Giao thông vận tải về hỗ trợ người cao tuổi khi tham gia giao thông công cộn

- Chính sách về chúc thọ, mừng thọ, tổ chức tang lễ cho người cao tuổi:

Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà.

Người thọ 90 tuổi được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà.

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối họp với Hội người cao tuổi tại địa phương, gia đình của người cao tuổi tổ chức mừng thọ người cao tuổi ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên vào một trong các ngày sau đây:

+ Ngày người cao tuối Việt Nam;

+ Ngày Quốc tế người cao tuổi;

+ Tết Nguyên đán;

+ Sinh nhật của người cao tuổi.

- Chính sách bảo trợ xã hội:

Người cao tuổi thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, bao gồm:

+ Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

+ Người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dường, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

Người cao tuổi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế; Được hỗ trợ mai táng phí khi chết.

2. Giải pháp thực hiện an sinh xã hội đối với người cao tuổi

Hoàn thiện hệ thống chính sách về bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, phát huy vai trò người cao tuổi.

Đa dạng hóa loại hình bảo hiểm nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của các nhóm dân số, nghiên cứu xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân. Tăng cường bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bổ sung trên cơ sở thiết kế linh hoạt, phù hợp với khả năng đóng góp và chi trả của đối tượng và có khả năng liên thông với các loại hình bảo hiểm khác.

Xây dựng một hệ thống trợ giúp/trợ cấp xã hội phổ cập và dễ tiếp cận cho người cao tuổi.

Nghiên cứu xây dựng chính sách chuẩn bị cho tuổi già để tăng cường hệ thống an sính xã hội nhằm hỗ trợ chăm sóc cho người cao tuổi trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm của các nước

Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm.

Có chính sách thu hút, khuyến khích hỗ trợ người cao tuổi có khả năng tiếp tục lao động sản xuất, nhất là những người có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm, sức khoẻ tốt, tham gia làm để tạo thu nhập và góp phần xây dựng đất nước.

3. Một số mô hình an sinh xã hội đối với người cao tuổi

3.1. An sinh xã hội cho người cao tuổi tại nhà an dưỡng

Ở Việt Nam, mô hình trung tâm chăm sóc người cao tuổi là mô hình nhà dưỡng lão được xây dựng dành cho người cao tuổi không thể sống độc lập được mà cần có sự giúp đỡ của nhân viên y tế và các dịch vụ xã hội khác.

Đối tượng của các cơ sở này là những người cao tuổi thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, khuyết tật hoặc cô đơn, không có con cháu hoặc không có thời gian chăm sóc. Mô hình thông thường là các cụ sống luôn hoặc trong một thời gian tại nhà dưỡng lão, có người phục vụ, chăm sóc. Tại các trung tâm dưỡng lão này, ngoài việc chăm sóc nơi an chốn ngủ, thường có kèm theo các dịch vụ cho người cao tuổi như nơi luyện tập, giải trí, đặc biệt là các dịch vụ y tế, chăm sóc các cụ bị ốm đau, bị liệt, mất khả năng tự phục phụ. Vì vậy mô hình này thường được đầu tư lớn của nhà nước hoặc các doanh nghiệp.

Tuỳ theo từng hoàn cảnh mà qui mô và chất lượng dịch vụ của các nhà dưỡng lão rất khác nhau. Ở các nước phát triển, do có quĩ phúc lợi xã hội lớn nên hệ thống các nhà dưỡng lão khá đầy đủ. Một số nước khác, nhà dưỡng lão chỉ có những điều kiện tối thiểu, tiêu chuẩn ăn uống, dịch vụ y té hạn chế. ở các nước nghèo hơn thì có các cơ sở được nhà nước cấp kinh phí, có qui mô nhỏ và thường phải trông chờ thêm vào các nguồn tài trợ từ thiện từ xã hội. Vì vậy nhiều người coi việc người cao tuổi đến ở nhà dưỡng lão là việc cực chẳng đã, cả con cháu lẫn người cao tuổi đều thấy tủi thân. Đối với người cao tuổi là người có công thì có các trung tâm phụng dưỡng tốt hơn. Có trung tâm nuôi dưỡng lâu đài, nhưng cũng có những trung tâm chỉ để nghỉ dưỡng một thời gian theo tiêu chuẩn dưỡng bệnh hoặc nghỉ mát.

Nhìn chung, ở Việt Nam các cơ sở chăm sóc người cao tuổi tập trung còn ít, chủ yếu là chăm sóc người cao tuổi thuộc diện đối tượng chính sách xã hội. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế và vấn đề già hoá dân số đang gia tăng cũng như các vấn đề xã hội kèm theo, đã có những nhà dưỡng lão có qui mô và chất lượng dịch vụ tốt hơn đã được các doanh nghiệp xây dựng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Do quy mô các gia đình ít con cháu, phải đi làm, không trông nom được bố mẹ, người cao tuổi lại có nhu cầu giao lưu tình cảm nên không ít người cao tuổi đã chọn nhà dưỡng lão là nơi để sống vui, sống khoẻ. Ngày càng có nhiều người cao tuổi vượt qua những định kiến của xã hội, tự nguyện đen ở nhà dưỡng lão tạo điều kiện cho con cháu yên tâm với công việc. Nhưng hiện nay hình thức này ở Việt Nam mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi có mức sống khá trở nên là chủ yếu. Việc chăm sóc người cao tuổi mới bắt đầu được hình thành, trước nhu cầu thực tế một số trung tâm dường lão tư nhân giành cho đói tượng có khả năng chi trả dịch vụ đã được thành lập bước đầu đem lại kết quả khá tốt.

3.2. An sinh xã hội cho người cao tuổi tại nhà

Xã hội ngày càng đánh giá cao hiệu quả của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại nhà. Hình thức này có ưu điểm là huy động được nhiều đối tượng trong cộng đồng tham gia, chi phí không cao và phù hợp với cách sống của người Á Đông. Một số mô hình chăm sóc tại nhà phổ biến là:

Chăm sóc cả ngày tại gia đình: Đây là một hình thức phổ biến và được nhiều người ưu dùng vì nó tạo khả năng chăm sóc người cao tuổi tại gia đình. Cách làm thông thường là thuê ngưòi giúp việc gia đình, trong đó bao gồm cả việc phục vụ người cao tuổi đau yếu. Ngoài ra các gia đình có thế sử dụng dịch vụ nhân viên y tế hoặc điều dưỡng viên chăm sóc người cao tuổi ngay tại gia đình trong một thời gian khi các bị bị ốm đau. Mô hình thuê người giúp việc cả ngày tạo thuận lợi cho gia đình vì người cao tuổi vẫn được sống cùng con cháu và giá cả phù họp. Nhưng cũng có nhược điểm là những người giúp việc phần lỡn xuất thân từ nông thôn, không có kiến thức và kỹ năng y tế cần thiết, nên trong nhiều trường hợp các cụ bị ốm đau nhưng không được chăm sóc đúng cách. Cái khó của mô hình này là không dễ tìm được người đáp ứng được nhu cầu của gia đình và làm việc lâu dài. Hiện ở nước ta đang ngày càng có nhiều trung tâm môi giới người giúp việc gia đình và chăm sóc người cao tuổi, nhưng rất ít trung tâm có đào tạo, tập huấn đúng cách cho người lao động.

Chăm sóc tại nhà theo giờ-. Mô hình này thường được áp dụng đối với các gian đình có bố mẹ hoặc ông bà đau ốm nhưng không có điều kiện thuê người chăm sóc cả ngày. Đối tượng phục vụ thường là các cụ mắc các bệnh như tai biến, liệt cần được phục hồi chức năng. Hàng ngày sẽ có các nhân viên y tế hoặc người giúp việc đến chăm sóc, vệ sinh cá nhân, châm cứu bấm huyệt hoặc giúp tập luyện... vào các giờ nhất định. Hiện nay không chỉ có người đến chăm sóc người bệnh về y tế mà còn đến chăm sóc về tinh thần cho người cao tuổi như trò chuyện, các liệu pháp tầm lý, hướng dẫn luyện tập... Mô hình này thường được cung cấp cho người cao tuổi cô đơn, cần được an ủi.

Tình nguyện viên chăm sóc tại nhà: Trước thực trạng ngày càng có nhiều người cao tuổi cô đợ, khó khăn, không có con cháu chăm sóc cần được giúp đỡ, nhiều nơi đã triển khai mô hình tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi. Trên cơ sở đạo đức truyền thống, tình làng nghĩa xóm, những người có điều kiện và lòng hảo tâm đã tình nguyện đến chăm sóc người cao tuổi. Tình nguyện viên thường đến nhà hàng ngày hoặc hàng tuần để giúp việc nhà, giúp luyện tập, đưa đi khám bệnh hoặc trò chuyện, chia sẻ tình cảm với người cao tuổi. Mô hình này không chỉ mang lại lợi ích cho người cao tuổi, mà còn góp phần phát huy tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên để có thể duy trì và phát huy cần có sự hưởng ứng và ủng hộ của chính quyền địa phương.

3.3. An sinh xã hội cho người cao tuổi tại bệnh viện

An sinh xã hội cho tuổi.

- Tổ chức các hoạt động giáo dục về sức khỏe cho bệnh nhân là người cao tuổi và gia đình của họ;

- Sử dụng các dịch vụ cộng đồng tạo thuận lợi cho phục hồi và ngăn ngừa bệnh tật cho người cao tuổi;

- Giúp đỡ người bệnh là người cao tuổi và gia đình họ giải quyết các khía cạnh tâm lý - xã hội khi họ ốm đau về thể chất.

Hiện nay có một số bệnh viện đang có những dịch vụ chăm sóc cho người cao tuổi ở Việt Nam:

- Bệnh Viện Lão Khoa Trung ưong; khoa Lão khoa trong các bệnh viện đa khoa tỉnh.

- Bệnh viện Y học cổ truyền

- Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng theo tổ chức Hội (khám bệnh miễn phí hàng năm)

Mô hình trung tâm tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (đã triển khai tại Vũng Tàu)...

4. Thực trạng về già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay

Già hóa dân số đã trở thành xu thế toàn cầu. Từ năm 2011, Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số với tỷ lệ người trên 65 tuổi là 7% dân số (tương đương 10% số người trên 60 tuổi). Cả nước hiện có khoảng 11,4 triệu người cao tuổi. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, giai đoạn năm 2045 đến 2050 Việt Nam sẽ trở thành nước dân số siêu già (khi tỷ lệ người 65 tuổi là 30% trở lên). Từ năm 1960, khi tuổi thọ trung bình của thế giới là 48 tuổi thì tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam là 40 tuổi. Thế nhưng, đến năm 2016, trong khi tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 70,15 tuổi thì tuổi thọ bình quân của Việt Nam đã tăng cao và đạt 73,4 tuổi. Dự báo cho thấy già hóa dân số ở nước ta tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới và sẽ trở thành vấn đề lớn nếu Việt Nam không chuẩn bị trước một hệ thống an sinh xã hội tốt dành cho người già thông qua cải cách hệ thống bảo trợ xã hội, mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế và khuyến khích các đơn vị sử dụng lao động tạo việc làm và môi trường làm việc phù hợp với người cao tuổi để họ có ích hơn.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thông tin và dữ liệu, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Nguyễn Quốc Anh cho biết, chất lượng cuộc sống người cao tuổi được đánh giá dựa trên các yếu tố: tuổi thọ bình quân khỏe mạnh; tình hình bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi; hệ thống khám, quản lý sức khỏe và y tế chongười cao tuổi... Tuổi thọ bình quân khỏe mạnh hay tuổi thọ không bệnh tật là tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng cuộc sống người cao tuổi, đi kèm theo đó là các chính sách ưu đãi, chăm sóc. Bảo hiểm y tế tăng có ý nghĩa rất quan trọng đối với người cao tuổi, số lượng người nhận bảo hiểm y tế được bao phủ rộng hơn và tăng lên từng năm, thế nhưng người cao tuổi vẫn còn gặp khó khăn nhất định khi đi khám, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế từ khả năng chi trả và khả năng tiếp cận dịch vụ do mô hình sử dụng dịch vụ y tế ở các tuyến khác nhau.

Mạng lưới khám, chữa bệnh cho người cao tuổi hiện đang được thực hiện lồng ghép trong hệ thống y tế từ Trung ương đến địa phương. Bệnh viện Lão khoa Trung ương là đơn vị tuyến cuối cùng về khám, chữa bệnh; tại các địa phương, từ đầu năm 2017 có hơn 70 bệnh viện các tuyến đã thành lập khoa lão, khoa lão ghép hoặc đơn nguyên khoa lão, nhưng rất ít đơn vị hoạt động theo đúng nghĩa dành cho người cao tuổi. Theo thống kê, năm 2017, có 792.430 người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ tại trạm y tế xã.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người cao tuổi

- Lăng mạ, ngược đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với người cao tuổi.

- Xâm phạm, cản trở người cao tuổi thực hiện quyền về hôn nhân, quyền về sở hữu tài sản và các quyền hợp pháp khác.

-Không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi.

- Lợi dụng việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi để vụ lợi.

- Ép buộc người cao tuổi lao động hoặc làm những việc trái với quy định của pháp luật.

- Ép buộc, kích động, xúi giục, giúp người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đối với người cao tuổi.

- Trả thù, đe doạ người giúp đỡ người cao tuổi, người phát hiện, báo tin ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật đối với người cao tuổi.